tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP

An cư kiết hạ

Thứ 7 | 20/07/2019
Đề tài này dành cho hai chúng xuất gia của Đức Phật, nhưng nay lại giảng cho Phật tử tại gia để quý vị có thể hiểu một phần nào việc tu hành của Tăng Ni; cho nên tôi chỉ triển khai một số ý mà cư sĩ tại gia có thể hành trì theo.

Về an cư, khi Đức Phật hành đạo, Ngài không đặt vấn đề an cư cho chư Tăng, mà chỉ đặt việc tu học Phật pháp và truyền bá chánh pháp để mang lại lợi ích cho mọi người. Tuy nhiên, đối với hàng đệ tử Phật, trước tiên là phải học giáo pháp và thực tập để đạt được kết quả tốt đẹp, mới sử dụng thành quả đó để chỉ dạy người. Vì vậy, điều này không chỉ đặt riêng cho giới xuất gia nữa, nhưng áp dụng cho tất cả mọi người phát tâm học Phật pháp và truyền bá Phật pháp; nếu tiến cao hơn thì được về Niết bàn hay Cực lạc. Cực lạc khác với Niết bàn. Chúng ta tu chứng Niết bàn trước, nhưng thực chất của Niết bàn là Cực lạc.

Trên lộ trình tu hành, bước đầu, chúng ta phải gạn lọc tâm cho trong sáng, ra khỏi trần lao nghiệp chướng. Khi tâm chúng ta được trong sạch và an vui, không phiền não, là đạt được trạng thái Niết bàn, hay trạng thái tu chứng của tâm. Như vậy, chúng ta đã đi được một nửa đoạn đường tu, vì thanh tịnh hóa được tâm mình rồi, nhưng chung quanh chúng ta còn hiện hữu các loài hữu tình và quốc độ chúng sinh không thanh tịnh, gọi là thế giới Ta bà.

Chúng ta tu hành ở Ta bà, nhưng xây dựng Tịnh độ tự tâm là Niết bàn. Vì vậy, chúng sinh và quốc độ không thanh tịnh, nhưng chúng ta phải cố gắng tu cho mình thanh tịnh, tức không bị hoàn cảnh và những người chung quanh tác động, thì chúng ta không còn có tâm vui buồn, ham muốn của trần gian. Đức Phật và hàng Thánh chúng đều đạt được tâm giải thoát này. Ngày nay, tuy là đệ tử Phật, nhưng sống cách Phật xa, cho nên người ta không còn đặt nặng sự cần thiết của Niết bàn tự tâm. Đa số chỉ chú tâm đến việc học rộng, nghe nhiều, nói hay, nhưng không tu, tức không thể nghiệm pháp Phật trong cuộc sống của chính mình; vì vậy, không được giải thoát.

Sống trong giáo pháp, chứng được Niết bàn tự tâm là tâm hoàn toàn thanh tịnh, thì tâm thanh tịnh này sẽ là động lực cho việc phát sinh trí tuệ, sẽ có được cái nhìn sáng suốt, giải thoát; bấy giờ Tỳ kheo mới vào đời độ sanh được.

Thật vậy, sau khi thành tựu quả Vô thượng Bồ đề, Đức Phật đến Lộc Uyển giáo hóa độ sanh, thì Kiều Trần Như là người đầu tiên đạt được tâm thanh tịnh, không bị vật chất cám dỗ; đó là trạng thái Niết bàn. Từ đó, Đức Phật mới cho phép Kiều Trần Như cùng đi khất thực với Ngài, đem th࿩c ăn về cho bốn Tỳ kheo ở tịnh xá dùng. Phật dạy rằng các Thầy này không nên đi khất thực, mà phải cố gắng tu hành cho thật sự thanh tịnh rồi, mới vào đời độ sanh.

Vì vậy, đối với những người tu hành chưa thanh tịnh, Phật không cho phép họ đi ra ngoài để khất thực; nhưng ngày nay, chúng ta nhận thấy nhiều người phạm sai lầm lớn, không thanh tịnh mà đi khất thực chẳng khác gì đi xin ăn. Đức Phật dạy rằng người tu không phải vì ăn, không phải vì đói mà đi khất thực; nhưng vì hạnh nguyện mang tâm giải thoát vào đời để người trông thấy mà được giải thoát theo.

Sau Kiều Trần Như, đến Mã Thắng Tỳ kheo đắc quả vị A la hán, tức tâm hoàn toàn thanh tịnh, không cần thức ăn nữa, Đức Phật mới cho phép ông đi khất thực. Và quả đúng như lời Phật dạy, Xá Lợi Phất trông thấy tướng giải thoát và cảm nhận được tâm giải thoát của Tỳ kheo Mã Thắng, thì liền được thanh tịnh. Lúc bấy giờ, Xá Lợi Phất nổi tiếng là nhà hùng biện hay nhất nước Ma Kiệt Đà, không ai lý luận hơn ông. Nhưng ông càng nói hay, càng thuyết phục được người khác thì tâm ông lại càng tan nát; đó là nỗi khổ của người không đắc đạo, thuyết phục được người, nhưng không thuyết phục được nghiệp và phiền não của chính mình, là sai lầm của hàng ngoại đạo thời bấy giờ.

Xá Lợi Phất lãnh đạo một tôn giáo lớn nổi tiếng thời đó, làm cho người khác nghe theo, nhưng tâm ông lại bất an. Vì vậy, khi trông thấy Mã Thắng hiện tướng giải thoát và tâm an lạc, tâm Xá Lợi Phất cũng được an theo và ông gặp Phật, phát tâm xuất gia.

Tâm an, mới được giải thoát và tiến tu xa hơn, mới có Cực lạc là cùng cực của sự an lạc. Thông thường, mới tu, chúng ta chỉ được một phần an lạc trong tâm mình, nhưng tiến tu tốt hơn, chúng ta có thể ảnh hưởng, làm cho tâm người xung quanh được an lạc theo. Điển hình là ở Bồ đề đạo tràng, Đức Phật chuyển hóa tâm Ngài trở thành thanh tịnh, chứng quả vị Toàn giác; nhưng lúc đó chỉ có Ngài thanh tịnh một mình, còn xã hội không thanh tịnh. Sau đó, đến Lộc Uyển, Đức Phật cảm hóa năm anh em Kiều Trần Như thanh tịnh theo, tạo thành thế giới tâm thanh tịnh của sáu Thầy trò, rồi Ngài mới mở rộng tâm thanh tịnh cho 200 đệ tử của Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và cảm hóa 50 thanh niên dòng họ Da Xá, cho đến 1.000 đồ chúng của Ca Diếp. Từ đó, giáo đoàn của Đức Phật có 1250 La hán, nghĩa là tâm của những vị này đã gắn kết với nhau trong Niết bàn như thế, thì Phật thuyết pháp bằng ngôn ngữ, hay Ngài yên lặng, họ cũng nghe được.

Trong thực tế cuộc sống, nếu chúng ta có duyên tiếp xúc với người đắc Thiền, hay đắc định, dễ nhận ra ý này. Dù Thiền sư yên lặng, nhưng thấy dáng đi, dáng ngồi của họ, tâm chúng ta cũng thanh tịnh theo. Điều này khiến chúng ta hình dung ra thế giới Niết bàn của 1250 La hán thời Phật tại thế. Đạo Phật thể hiện tinh thần vô tác diệu lực một cách siêu tuyệt ở điểm không cần nói, nhưng mọi người đều hướng tâm về Phật và người hướng tâm cao nhất như vua Ba Tư Nặc, vua Tần Bà Sa La, hoặc ông trưởng giả Cấp Cô Độc. Những tâm hồn lớn này hướng về Phật, tạo thành thế giới vật chất cũng thanh tịnh theo. Bước ban đầu, chỉ có thế giới tâm linh là Niết bàn, nhưng sau đó tất cả mọi người đều cùng ở trong Niết bàn. Đức Phật nói rằng tâm thanh tịnh sẽ tạo thành tất cả các pháp đều là Niết bàn; nghĩa là tâm thanh tịnh sẽ tác động khiến các pháp cũng thanh tịnh theo. Ý này cũng thường được diễn tả là tâm tịnh thì độ tịnh, tức Cực lạc hay thiên đường do tâm thanh tịnh mà hiện hữu.

Người có tâm thanh tịnh, thì thế giới của họ cũng thanh tịnh, gồm có chúng sinh và quốc độ. Vì vậy, khi người đến với ta mà họ không thanh tịnh, phải biết tại chúng ta không thanh tịnh.

Tâm ta và chúng sinh thanh tịnh, thì quốc độ thanh tịnh; quốc độ là xã hội. Do đó, xã hội tốt hay xấu là do con người quyết định và con người tốt hay xấu là do tâm quyết định. Thể hiện ý này, Đức Phật bảo Vô Não rằng con dao trong tâm ông chưa buông bỏ, thì tâm ông không thể thanh tịnh và những người xung quanh cũng theo đó không thanh tịnh.

Chính vì mọi người không thấy được thế giới thanh tịnh, cho nên Đức Phật phải mượn thế giới Cực lạc của Đức Phật Di Đà để giới thiệu. Cũng vậy, trong kinh Duy Ma, Đức Phật phải lấy chân ấn xuống đất để thế giới Phật hiện ra, nhằm nói lên rằng tâm Phật tác động cho chúng sinh hữu duyên với Ngài được thanh tịnh.

Trên bước đường tu, đầu tiên chúng ta thanh tịnh sẽ ảnh hưởng đến người liên hệ cùng được thanh tịnh, cho đến tác động xã  hội thanh tịnh theo, thế giới tốt đẹp mới hiện ra. Thế giới A tu la luôn đánh giết nhau, nên họ xây dựng rồi chính họ lại tàn phá. Trong khi theo Phật, Ngài dạy chúng ta phải có tâm thanh tịnh trước, xã hội mới thanh tịnh theo. Tuy Đức Phật dạy như thế, nhưng đối với những người chưa đắc quả vị A la hán thì phải cấm túc an cư để được thanh tịnh, để nuôi dưỡng và phát huy tâm thanh tịnh.

Vì vậy, khi năm anh em Kiều Trần như chưa đắc Thánh quả A la hán, tâm chưa thanh tịnh, còn bị người tác động, thì phiền não sẽ phát sinh; vì đi khất thực, bị người mắng nhiếc, khi dễ, tâm họ sẽ buồn phiền. Cho nên, Phật dạy các Tỳ kheo chưa thanh tịnh phải ở yên một chỗ tu hành. Đức Phật đã hoàn toàn thanh tịnh, Ngài đi khất thực để độ sanh, cho nên người tín chủ kính trọng cúng dường Phật. Ngài sử dụng của thanh tịnh này mà nuôi các Tỳ kheo, họ đắc đạo được; vì thức ăn của Phật đã thanh tịnh cho Tỳ kheo ăn, họ sẽ thanh tịnh theo. Ý này được người đời thường nói là cách cho hơn của cho. Vì người ta thường lầm tưởng rằng của đem bố thí mới quý, giá trị của đồ vật càng cao thì càng quý; nhưng cách cho mới quan trọng hơn của cho.

Có thể thấy rõ rằng khi Đức Phật chưa chế pháp an cư, Ngài đã chỉ định năm anh em Kiều Trần Như an cư, tức là Phật đã ngầm chế pháp an cư tại Lộc Uyển thời đó. Tuy nhiên, phải 12 năm sau, Đức Phật mới chính thức đưa ra pháp an cư cho Tăng chúng, vì có những Tỳ kheo đi khất thực, bị nước cuốn trôi, bị chết. Vì vậy, pháp an cư được xem là pháp thuận thế, nghĩa là yêu cầu của xã hội như thế nào thì Phật mới thiết đặt tương ưng như thế; cho nên đó không phải là chân lý, mà chỉ là phương tiện.

Và phương tiện thì nhiều vô số, vì tùy theo yêu cầu của xã hội mà Đức Phật thiết đặt các pháp môn tu cho thích hợp với mọi người. Kinh Pháp Hoa nói rằng ví như người thợ dùng đất sét nặn ra đủ loại vật dụng cho mọi người tiêu dùng. Chân lý chỉ có một, nhưng phương tiện thì có vô số. Đối với các vị La hán không sợ mưa nắng, đói cũng không chết, gặp lũ lụt thì các ngài dùng thần thông mà đi. Nhưng những người chưa đắc đạo, bị nước cuốn trôi, bị đói lạnh thì chết. Các Thầy này muốn dừng chân lại để bảo toàn mạng sống, tất nhiên Phật cho phép. Ý này trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật ví lộ trình đi đến quả vị Phật giống như đoạn đường dài 500 do tuần đường hiểm, những người mệt mỏi không dám đi, nên Phật phải tạo ra một hóa thành cho họ nghỉ ngơi dưỡng sức rồi mới có thể tiếp tục đi. Cho phép dừng chân an cư cũng giống như vậy, Đức Phật mới chế tác chư Tăng phải cấm túc an cư. Đồng thời, Phật cũng khuyến hóa hàng Phật tử tại gia phải hộ trì chư Tăng trong mùa an cư để họ có đ