tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP

Gánh Nặng Cuộc Đời

Chủ nhật | 09/06/2019
Bậc chứng quả A La Han (Arahat) sẽ biết rõ “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc phải làm đã làm xong, từ nay không còn việc gì ở thế gian nữa.”



Cuộc đời đối với mỗi người là một gánh nặng lớn, là nỗi khổ niềm đau, là ưu bi, là nghiệp chướng, là trần lao, là nỗi lo lắng sầu muộn. Gánh nặng cuộc đời dưới mắt nhà thi sĩ Tú Xương được hiểu:

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quảng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Để giữ được hạnh phúc gia đình, nụ cười của những đứa con, người ta phải lao vào cuộc tìm kiếm vật chất cơm, áo, gạo tiền. . . nhằm đáp ứng thỏa mãn nhu cầu hiện hữu của con người. do vậy họ bất chấp sự bôn ba chèo chống, bương trải, chịu đựng quanh năm vất vả, lặn lội ngày đêm để tìm kế sinh nhai, tìm kiếm hạnh phúc. Nhưng họ càng lao vào cuộc đời bao nhiêu thì ôi thôi hạnh phúc đâu không thấy, chỉ toàn thấy những điều thống khổ. Thu qua đông tàn xuân héo hắt, chỉ còn lại thân hình tiều tụy với một cái tâm cấu nhiễm. Đây là gánh nặng cuộc đời không mấy ai chịu quẳng xuống để đón nhận niềm vui nhẹ gánh lo âu.

Gánh nặng đã cướp đi hạnh phúc an lạc và làm lu mờ chơn tâm của con người. Gánh nặng cuôc đời bao gồm trên hai phương diện vật chất và phi vật chất (tinh thần). Dưới ánh sáng trí tuệ Phật giáo, gánh nặng cuộc đời được nhìn sâu hơn tận gốc rễ. Đó là gánh nặng của những ảo vọng, những cấu nhiễm tham lam, sân hận, si mê, mạn, nghi, tà kiến… chất chứa. Như chuyện kể một bữa nọ có một vị thiền sư từ xa đến mang trên người đủ thứ quà tặng cho nhà chùa, khi vào điện đường gặp Tổ, Tổ hỏi:

- Ngài từ đâu đến.
- Con từ xa đến.- Vị thiền sư trả lời.
- Ngài để hết đồ xuống đi - Tổ nói.
Vị thiền sư làm theo lời Tổ chỉ dẫn và để hành lý xuống. Tổ nói tiếp:
- Ngài để hết xuống đi.
- Dạ con đã để xuống hết rồi.- Vị thiền sư ngó qua ngó lại rồi trả lời.
- Nếu đã để xuống hết rồi, vậy Ngài gánh lên đi.- Tổ tiếp tục nói.
Vị thiền sư thắc mắc chưa hiểu ý Tổ…

Lòng tham, lòng sân, lòng si, tình cảm trói buộc, tham ái, nghiệp, vọng tâm… những tâm thức này làm cho ta không nhận thấy chơn tâm, chân lý tuyệt đối, vạn pháp giữa cuộc đời. Đức Phật có dạy đệ tử rằng nguyên nhân sinh khởi những tâm thức đó là do năm thủ uẩn, đó là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Vậy gánh nặng ở đây là năm uẩn. Từ chỗ này ta hiểu ý của Tổ, lần thứ nhất Tổ nói “ông bỏ mọi thứ xuống” có nghĩa là ông buông bỏ gánh nặng về vật chất. Lần thứ hai Tổ nói “ông bỏ hết xuống đi” có nghĩa là buông bỏ gánh nặng năm thủ uẩn. Sau cùng Tổ nói “ông gánh lên đi” có nghĩa là không phải quăng bỏ năm uẩn, mà đừng nên tham chấp năm uẩn. Năm uẩn này nên được xử dụng như phương tiện để tu tập, như chiếc bè để qua sông. Không có thân năm uẩn, không có chếc bè ta lấy gì để qua sông, để tu tập. Nếu ta không gìn giữ chiếc bè này ta không qua sông được, không thể nào hướng đến tâm an lạc hạnh phúc.

Có nhiều người ở thế gian họ đang chán chê cuộc sống, và họ có tư tưởng yếm thế bằng cách treo cổ tự tử, hủy hoại mạng sống của họ. Họ làm như vậy là do họ không có lối thoát. Trong thời Phật tại thế, Đức Thế Tôn đã thường thuyết năm uẩn này là không thật được cấu tạo bởi yếu tố của sự nhơ nhuế. Trong thân thể của ta từ chân lên đến đầu đầy dẫy những vật bất tịnh gồm: tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dày, máu mủ, thịt, gân, mạch, xương, tủy, gan, phổi, tim, lá lách, dạ dày, đồ ăn, ruột non, ruột già, phẩn, nước tiểu, nước mũi, nước miếng, mồ hôi, nước mắt, ghèn, ráy tai, cáu bẩn, óc, bong bóng, mật đàm, bầy nhầy, mỡ, mỡ sa, màng óc. Ðó là ba mươi sáu vật bất tịnh trong thân. Nhũng vật bất tịnh chứa đựng trong một túi da mà ta gọi là xác thân rỉ chảy thông qua chín lỗ. Nếu ai đó không tẩy rửa chín lỗ này mỗi ngày, thì mùi hôi thối từ chín lỗ này xông ra khó ai chịu nổi. Nếu buổi sáng không đánh răng mà cắn người nào người đó nhiễm trùng ngay. Ở dân tộc ít người họ thường xuyên không đánh răng và họ lấy nước dãi tẩm vào đầu cây tên để bắn con thú, con thú nào trúng tên sẽ chết ngay. Phân tích sâu như vậy để ta thấy thân thể này không còn chỗ nào để ta bám víu. Thân thể này không còn chỗ nào để ta yêu mến.Ta không nên chấp chặt vào năm uẩn. Mặc dù vậy ở thế gian mọi người vẫn mất bao nhiêu công sức và thời gian để tô vẽ, chăm sóc tôn vinh năm uẩn này.

Sau bài thuyết gánh nặng năm uẩn, nhiều chư Tăng hiểu lệch lạc lời dạy của đức Thế Tôn đã bàn nhau hủy bỏ xác thân hôi thối này, và nhiều chư tăng đã tìm đến cái chết. Việc này đến tai Đức Phật và Đức Phật đã quở trách “các ông là những người u mê ám chướng, ta thuyết như vậy để các ông tỉnh giác chứ không phải hủy hoại thân xác này. Các ông phải biết tận dụng xác thân này để tu tập, như chiếc bè để đi qua bờ bên kia giải thoát”. Cứ tưởng sự hủy họai xác thân của người tu hành chỉ là câu chuyện của quá khứ. Nhưng một bữa nọ ở chùa Đức Lâm có một nhà sư đã treo cổ tự tử. Công an xuống điều tra nguyên nhân cái chết của nhà sư. Họ đã tìm thấy ba lá thư, một cho sư phụ, một cho sư trụ trì, một cho huynh đệ. Nội dung trong đó nói rằng “con chán nản quá ,nên con không muốn sống nữa chứ không ai áp bức con cả.” Nói như vậy ta sẽ không hiểu việc đó đúng hay sai, nhưng sự ảnh hưởng của câu chuyện có tác động rất lớn đến tư tưởng người Phật tử. Các Phật tử họ đang đi tìm con đường đạo, con đường giải thoát, các nhà sư hủy họai tự thân như thế là có vấn đề gì? Câu hỏi được đặt ra. Ta có thể kết luận rằng các vị sư này chưa thật hiểu giáo pháp của Đức Thế Tôn, thấy thân xác này là một gánh nặng nên tìm cách hủy thân. Hành động sai lầm này gây ảnh hưởng đến người xung quanh, sư trụ trì, và cả ngôi chùa. Những nhà tri thức họ sẽ đặt ra câu hỏi, con đường tu tập của các nhà sư có thực sự an lạc hạnh phúc hay không? Có được giải thoát không? Hay sự tu tập trở thành một gánh nặng của sự ức chế.

Thỉnh thoảng có vài trường hợp người tu tập càng tinh tấn thì chuyện rắc rối xảy ra cho người đó càng nhiều, một vài người chưa hiểu gọi đây là đổ nghiệp. Có trường hợp nghiệp đổ từ từ, có trường hợp nghiệp đổ liên tiếp hết tai họa này đến tai họa khác. Người bị nghiệp như vậy ta phải suy nghĩ rằng đây là phước báo, do có tu tập nhiều nên mới được nghiệp đổ hay hiểu chính xác hơn là ta được trả nghiệp hay ta đang sớm tiêu nghiệp cũ. Có người đánh chửi ta tức là họ gánh bớt nghiệp cho ta, đem phước báo cho ta. Nhưng điều nghịch lý là ta không vui vẻ đón nhận mà còn khóc than hay bức xúc, thậm chí còn mang tâm thù hận. Quan kiến như vậy là do vô minh chi phối ảnh hưởng. Ta phải nên hoan hỷ, sung sướng, hạnh phúc vì có người la mắng ta, người đến thử thách ta trên con đường tu tập. Họ la mắng càng nhiều bao nhiêu thì ta phải đảnh lễ họ bấy nhiêu. Nếu ta làm được điều đó thì ta đã đến gần với đạo giải thoát rồi . Tóm lại gánh nặng đó là năm thủ uẩn, ai gánh lên sẽ lo âu, đau khổ, nhiều phiền lụy. Tất cả các pháp hữu vi đều là hoại diệt vô thường, do vậy Đức Thế Tôn dạy mọi người nên tu tập theo lộ trình giới, định, tuệ, không chấp thủ thân này là có thật, thân này chỉ là đất, nước, gió, lửa hợp thành do duyên. Thọ, tưởng, hành, thức là yếu tố tinh thần cũng thay đổi liên tục do duyên. Thức này được sinh ra do mắt khi nhìn thấy sắc sẽ phân biệt sinh thức gọi là nhãn thức. Tai nghe âm thanh phân biệt sinh nhĩ thức. Mũi ngửi hương thơm sinh tỹ thức. Lưỡi nếm vị ngon sinh thiệt thức…Do vậy thức thay đổi theo trần cảnh. Ví dụ mắt nhìn thấy sắc đẹp sinh vui ưa thích, mắt thấy xấu sinh khó chịu. Nhãn thức phân biệt không phải là vật chất mà là phi vật chất đang thay đổi trên từng sát na, ta chấp vào sự thường còn hay cố định, không thay đổi sẽ sinh khởi khổ đau.

Những người thất tình dao động tâm trí là do mắt nhìn thấy sắc đẹp sinh ưa thích, chấp giữ, lưu vào bộ nhớ tâm thức rồi tương tư sầu muộn, bệnh nhớ chấp mông lung. Cô Ma Đăng Dà nhìn thấy Tôn giả Anan một lần thôi, vậy là cô đã chấp thủ vào hình tướng, và cho rằng hình ảnh đó quá đẹp sống mãi và ngự trị trong trái tim cô. Đây là tiến trình chấp thủ, chấp thủ mà không đạt được sẽ đau khổ gần đến chết. Đức Thế Tôn khuyên với cô nên tu tập khi nào chứng quả Alahan cô sẽ được cưới Tôn giả Anan. Thế là cô tinh tấn tu tập xả bỏ tất cả cấu nhiễm, sau một thời gian cô đã chứng quả Alahan trước Tôn giả Anan. Lúc đó cô đã gặp Đức Phật xin từ hôn vì cô nhận ra rằng các pháp hữu vi là giả tạm, biến hoại vô thường, hạnh phúc tuyệt đối không phải tìm ở bên ngoài thế gian mà ngay nơi sự buông bỏ năm thủ uẩn.

Do vậy, ta hãy thực tập buông xả sự sân hận, trước đây ta giận một tháng, giờ ta giận một ngày, rồi tập lần xuống một tiếng, mười lăm phút, rồi không còn giận nữa. Vậy ta đã giải thoát được lòng sân. Ta giải thoát phần nào của tham sân si mạn nghi ác kiến…ta được an lạc phần đó . Nhưng có người nói muốn buông xả nhưng khi làm, khi thực hành không được. Vậy có cách nào để buông xả có hiệu quả? Ta hãy lựa chọn pháp môn phù hợp trong 37 phẩm trợ đạo - kho tàng vô giá, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo … và quan trọng hơn cần tinh tấn thực hành giáo pháp của Phật với tâm không thối lui, với lòng tin tuyệt đối, gỡ bỏ mọi sự dính mắc, chấp thủ, ta sẽ buông xả được tất cả, ta sẽ được tự do hoàn toàn, không còn bị lệ thuộc. Thế giới tâm linh sẽ hiện ra trước mắt ta.

Một trong những câu hỏi khác là làm sao biết ta đã buông bỏ hết tất cả hệ lụy? Bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, là bậc đã chứng quả Alahan, bậc đã ra khỏi dòng luân hồi sanh diệt. Các ngài chỉ quay lại thế gian để cứu độ chúng sanh đang còn mê mờ, các ngài cứu giúp với lòng từ bi, chứ không phải vì trách nhiệm, ép buộc. Ví dụ Bồ Tát Di Lặc hiện xuống trần gian cứu giúp chúng sinh với hình ảnh Bố Đại Hòa Thượng, và báo cho chúng sinh biết rằng tương lai sẽ có Phật Di Lặc xuống trần gian để cứu độ chúng sanh. Ngài đi vào cõi thế với tâm buông bỏ vạn duyên, không còn chấp ngã, không có tâm phân biệt. Thời Phật tại thế, có người tự nhận mình đã chứng quả. Họ tới bờ sông Hằng dùng thần thông đi trên mặt nước, Đức Thế Tôn xem chuyện ấy rất bình thường và hỏi vị đó “Ngài tốn bao nhiêu thời gian để đi được trên mặt nước?”. Vị đó trả lời “Ba mươi năm”. Đức Thế Tôn nói “ tôi chỉ tốn có một rubi”. Ba mươi năm chỉ luyện đi trên mặt nước thật là uống phí, vô ích, vì tâm tham, sân, si, mạn, nghi, ác, kiến vẫn còn nguyên, người đó không thể nào ra khỏi luân hồi. Vậy đi trên mặt nước có ích gì? Nên Đức Thế Tôn không dạy đệ tử làm chuyện vô ích. Ba mươi năm thật uổng phí mà tội lỗi còn nhiều hơn. Vì có thần thông ta tham nhiều hơn, sân nhiều hơn. Có thần thông sẽ có nhiều đệ tử, nhưng nhiều đệ tử để làm gì? Để đi khoe với thiên hạ rằng ta có đông đảo hội chúng chăng? Hội chúng đông đảo cũng oai lắm chứ, ta được phục dịch nhiều, nhưng phục dịch nhiều để làm gì? Chỉ để cho ta mất phước nhiều thôi. Ta phải cho đệ tử phước, nhưng ta chưa chứng quả thì không bao lâu sẽ hết phước. Ví như ngọn đèn mỏng manh mà đem đi mồi cho một ngọn đèn khác thì rất dễ bị tắt. Người chưa chứng quả giống như ngọn đèn treo trước gió. Người đã chứng quả cho phước bao nhiêu cũng không hết. Các ngài ví như ngọn đèn không dao động trước gió. Nhưng làm sao ta biết ai đã chứng quả? Hãy cộng trú ta sẽ biết các Ngài đã chứng quả Alahan hay chưa?

Bậc chứng quả A La Han (Arahat) sẽ biết rõ “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc phải làm đã làm xong, từ nay không còn việc gì ở thế gian nữa.” Đây là sự thành tựu buông bỏ gánh nặng đến tột cùng, không còn bất cứ chấp thủ nào đối với sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Con đường giải thoát thênh thang rộng mở cho những ai không còn gánh nặng. Như kinh Tương Ưng Uẩn, Phật có dạy:

“Ngũ uẩn là gánh nặng,

Kẻ gánh nặng là người.

Mang gánh nặng ấy lên

Chính là khổ ở đời.

Còn đặt gánh nặng xuống

Chính là lạc ở đời…

 

                                                                                         TS. Thích Thích Đức Trường


Các tin khác
Trang

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 301
Pháp Âm: 1219
Đang truy cập
Hôm qua: 108
Tổng truy cập: 460161
Số người đang online: 7