tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP

Tổ Huệ Đăng: Tâm Nguyện Lợi Sanh

Thứ 7 | 03/08/2019
Tổ Huệ Đăng gương sáng tiêu biểu Phật giáo yêu nước phụng đạo, sâu xa hơn là “tâm nguyện lợi sanh”.

I. TINH THẦN YÊU NƯỚC

Tổ Huệ Đăng, thế danh là Lê Quang Hòa, sinh năm Quý Dậu (1873) nhằm triều Tự Đức năm thứ 26, tại xã An Đông, huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, trong một gia đình Nho học.

Mới lên 5 tuổi giỏi Nho học, đến 7 tuổi Tổ được vào học trường huyện. Nhờ bẩm chất thông minh, Tổ luôn chiếm ưu hạng. Sau một thời gian Tổ được chuyển lên học trường tỉnh. Đây là nơi Tổ có thể sôi kinh nấu sử để mai sau danh chiếm bảng vàng, làm rạng rỡ tông đường. Mang chí trai nhiều hoài bảo Tổ mong có thể giúp gì cho đất nước và dân tộc.

Ngờ đâu ngày 22 tháng 5 năm Ất Dậu (1885) kinh đô Huế thất thủ. Vua Hàm Nghi phải xuất thành bôn ba và xuống chiếu Cần Vương. Vừa lúc đó có kỳ thi Hương tại trường thi Bình Định, các sĩ tử cùng nhau bãi thi, phá trường, hô hào tham gia phong trào Cần Vương, chống Pháp cứu nước.

Nhìn thấy nước nhà nghiêng ngã, dân chúng rơi vào cảnh lầm than, Tổ cũng xếp bút nghiên, gia nhập hàng ngũ nghĩa quân Bình Định của các Ông Mai Xuân Thưởng, Bùi Điều. Năm Đinh Hợi (1887), sau khi lực lượng nghĩa quân Cần Vương bị Pháp đàn áp, các thủ lĩnh lần lượt hy sinh, Tổ phải lánh nạn vào miền Nam vùng Bà Rịa, tạm khoác áo thầy đồ che mắt quân địch, để chờ cơ hội và tìm đồng chí.

Tổ đã đi khắp các tỉnh miền Đông xuống tới Gò Công. Đi đến đâu Tổ cũng đều thất vọng vì bấy giờ người Pháp đã đặt xong nền cai trị với bộ máy đàn áp và tay sai khắp nơi. Phong trào Cần Vương không có ảnh hưởng gì ở miền Nam. Chán nản, Tổ lại quay về Bà Rịa, tạm ẩn mình nơi nhà người bạn cũ năm xua.

II. XẢ THÂN TU ĐẠO

Năm 1900, một lần đang dạo bước lên đồi Chân Tiên, lòng bâng khuâng vì thời cuộc, bỗng xa vọng lại tiếng chuông chùa trầm buồn giữa núi rừng thâm u thanh vắng, Tổ chợt thức tỉnh giấc mộng trần, nhận chân được cuộc đời này vô thường, xoay vần mãi trong vòng sanh diệt và quan trọng nhất là mọi việc đều do nghiệp thiện hay ác của con người quyết định. Với ý thức tỏ ngộ như vậy, sáng hôm sau Tổ tìm đến chùa Long Hòa Cổ Tự gặp Sư Tổ Hải Hội - Chánh Niệm.

Qua ý chí và tâm nguyện lợi sanh của Tổ, Tổ Hải Hội đoán đây là bậc lương đống cho Phật pháp trong tương lai, nên lấy lời cảnh tỉnh khuyên Tổ xuất gia hành đạo, cứu giúp chúng sinh còn lặn ngụp trong sanh tử.

Nghe lời Tổ giáo huấn, Tổ xin xuất gia học đạo, Tổ Hải Hội - Chánh Niệm truyền quy giới và ban cho Tổ pháp hiệu là Thiện Thức, nghĩa là hiểu được ý nghĩa thâm sâu của đạo Phật mà thức tỉnh xuất gia, tu hành. Vì thế, Tổ dốc lòng tu học, thể nghiệm Phật pháp, nhanh chóng hòa nhập vào nếp sống thiền lâm, được Thầy Tổ mến yêu, huynh đệ kính vì. Tổ Hải Hội dạy Tổ pháp môn trì chú Chuẩn Đề và tụng kinh Pháp Hoa, đó là pháp môn tu chính của tông Thiên Thai nhằm tỏ ngộ Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm Kinh. Sau khi lãnh yếu chỉ của Tổ Hải Hội, Tổ vào khu rừng già chỉ có cọp beo, rắn rít ở (ngày nay Tổ đình Thiên Thai), tu hành trong hang "Ông Hổ” trì chú Chuẩn Đề không khởi vọng thức, vọng niệm và đạt được tâm yên tĩnh phát huy trí tuệ.

Năm 1901, Tổ được Bổn sư gởi đi tham học với Tổ Trí Hải ở chùa Thiên Thai Sơn Thạch Tự ở Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Tổ ở đây ba năm tinh tấn tu học, tỏ ra là người trí tuệ uyên bác, thông suốt các kinh, luật, luận. Rồi Tổ quay về chùa Long Hòa. Thấy đạo phong và trí huệ Tổ xứng đáng là người gìn giữ mối đạo tương lai, Tổ Hải Hội truyền trao Cụ Túc giới và ban pháp danh là Thanh Kế, đạo hiệu là Huệ Đăng.

Năm đó, Tổ 30 tuổi (1903), Tổ được Tổ Hải Hội cho trú trì chùa Kiên Linh hơn một năm. Sau đổi về trú trì chùa Phước Linh ở xã Tam Phước cùng tỉnh Bà Rịa năm 1904 và cũng năm này, Tổ được nhập chúng tu học với hạ lạp đầu tiên tại chùa Giác Viên, do Tổ Hoằng Ân làm Chủ hương.

Năm Ất Tỵ 1905, Tổ Hải Hội viên tịch ở chùa Long Hòa. Tổ phải về cư tang và lo xây dựng bảo tháp. Thời gian này Tổ vào núi Dinh (núi Dinh Cố) khai phá Thạch động làm nơi tĩnh tu. Tổ ở lại đây hai năm tĩnh tu thiền định, tụng kinh Pháp Hoa. được Phật hộ niệm, Tổ có được sự tu chứng, hiểu biết mọi việc trên cuộc đời không sai lầm. Tổ làm bài kệ nói lên sở tu, sở ngộ như sau:

 

Tá thạch vi tường
Thục Thức lão Tăng cùng đáo để
Dĩ phong tác phiến
Thùy tri đại đạo lạc vô cương.

Tổ rời hang đá, ra ngoài sống trong túp lều. Tăng Ni bốn phương tìm đến cầu học với Tổ. Lúc đó, chưa có chùa, Tổ cho cất cốc lá để đại chúng ở, ăn uống đơn giản, tu hành nghiêm mật. Danh đức của Tổ vang khắp, thiện tín bốn phương sùng kính ngày càng đông, đồ chúng theo Tổ tu học càng nhiều.

III. ĐÓNG GÓP CHO ĐỜI VÀ ĐẠO

Nhận thấy “Động Thiên Thai” là tên gọi Tổ cảm hứng đặt cho Thạch động thì quá nhỏ hẹp, không phải là chốn già lam, nên Tổ nghĩ đến việc xây dựng chùa Thiên Thai ở chân núi Dinh để tiếp Tăng độ chúng truyền bá chánh pháp. Hòa thượng Minh Nguyệt truyền rằng số tiền mà người đến cúng Hòa thượng Huệ Đăng rất nhiều, không đếm từng đồng, nhưng cúng bằng thúng giạ. Có đủ duyên lành như vậy, Tổ mới hoàn thành ngôi chùa Thiên Thai cho đại chúng nương vào đó tu hành.

Pháp hạnh của Tổ được lan truyền trong các sơn môn, nên trong những trai đàn đại lễ, các chùa đều thỉnh Tổ làm Pháp sư hay Chứng minh. Tổ không nỡ từ chối dù phải đi xa, như:

  • Năm 1908, Tổ 35 tuổi, chùa Châu Viên ở Bà Rịa khai trường Kỳ, chư sơn mời Tổ lãnh chức Yết Ma, đồng thời làm Pháp sư trong giới đàn đó.
  • Năm 1913, chư sơn trong tỉnh thỉnh Tổ tổ chức giới đàn tại chùa Phước Linh (xã Tam Phước, Bà Rịa). Tại Đại giới đàn này, Tổ được suy tôn làm Đường đầu Hòa thượng.
  • Năm 1915 (42 tuổi), Tổ được thỉnh đến trú trì chùa Bà Lang Lệ ở Cái Tàu Thượng (Sa Đéc) do Phật tử cúng cho Tổ. Về đây việc truyền bá Phật pháp của Tổ có cơ hội phát triển. Rất đông chư sơn các nơi đến học và quảng đại tín đồ đến quy y thọ giới.
  • Năm 1918 Tổ làm Pháp sư trường Hương ở chùa Sắc Tứ Quan Âm Cổ Tự (Cà Mau),
  • Năm 1920 Tổ làm Chứng minh trường Hương ở chùa Phước Trường v.v...

Sau một thời gian vân du hoằng hóa ở các tỉnh Nam bộ, Tổ cùng một đệ tử về ẩn tu ở hang Mai trên núi Dinh, sống khắc khổ để tĩnh tu thiền định. Tổ bị quan Tri phủ sở tại nghi ngờ tổ chức chống Pháp nên bắt buộc phải rời hang Mai.

Năm 1925, Tổ lại dẫn đồ chúng lên sườn núi Dinh khai hoang lập vườn trồng cây trái. Sau năm năm vừa tu hành vừa làm lụng cực nhọc, vườn cây vú sữa đã có trái, đủ huê lợi cho môn đồ no ấm tu học.

Năm 1929, Tổ trùng tu lại ngôi Tổ đình Long Hòa được khang trang. Vì chùa đã bị hư mục sau 200 năm xây dựng. Và năm 1933, do thỉnh cầu của đồ chúng, Tổ cho xây dựng Thiên Bửu Tháp (còn gọi là Cửu Liên Đài) ở phía đối diện chùa Thiên Thai. Điều mầu nhiệm, Tổ không kêu gọi, quyên góp, nhưng người hằng tâm hằng sản xin cúng dường. Thế mới biết sự chứng đạo của Tổ đã làm lợi lạc nhân sinh khiến mọi người tin tưởng vào sự nghiệp hoằng dương chánh pháp.

Hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo, năm 1931, Tổ cùng Hòa thượng Khánh Hòa, cây đại thụ của phong trào, vận động chư sơn thành lập hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn ở gần chợ Cầu Muối. Chẳng may trên bước đường hoằng dương chánh pháp, hội đã gặp trở ngại, nên Phật sự không tiến hành được.

Trước bối cảnh đó, các Hòa thượng có tâm huyết ở Nam kỳ tha thiết với mục đích chấn hưng Phật Giáo, đã phải quay về chùa nhà, tỉnh nhà thành lập các tổ chức Phật giáo với danh xưng khác nhau để tùy duyên hoằng pháp. Hòa thượng Khánh Hòa thành lập hội Lưỡng Xuyên Phật Học năm 1934, Hòa thượng Trí Thiền thành lập Hội Phật Học Kiêm Tế năm 1937. Cùng chiều hướng này, năm 1935, Hòa thượng Huệ Đăng thành lập hội Thiên Thai Thiền Giáo Tông, đặt trụ sở tại chùa Long Hòa ở Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời cho xuất bản tờ Bát Nhã Âm để vận động phong trào chấn hưng Phật Giáo và hoằng dương chánh pháp. Trường gia giáo cũng được khai giảng tại chùa Long Hòa, quy tụ hàng Phật tử xuất gia và tại gia về tu học ngày càng đông.

Tổ thường nói với đồ chúng rằng:"Duy trì Phật pháp chính là ở chỗ mở rộng việc hoằng hóa lợi sanh, giáo dục thiện tín, gieo trồng duyên lành, cội phước". Chính nhờ quan niệm đúng đắn đó, mà việc truyền bá giáo lý của Tổ được phát triển khắp nơi. Khi hỏi tu thế nào, Tổ dạy:

Nhiếp cả sáu căn
Tịnh niệm tiếp nối
Bất lập phương tiện
Tự đắc tâm khai

Năm 1941, Tổ về Bình Định thăm quê nhà. Vì quá ngưỡng mộ danh đức của Tổ, quan huyện Bình Khê và một số đông nhân sĩ trong huyện đến thọ giáo và thỉnh cầu Tổ ở lại hoằng hóa tại đây. Tổ chọn núi Ông Đốc ở xã Bình Tường - Phú Phong - Tây Sơn - Bình Định, lập nên ngôi chùa Thiên Tôn.

Năm 1943, sơn môn trong Nam cử người ra rước Tổ trở lại chùa Thiên Thai. Bấy giờ sức khỏe của Tổ đã giảm sút nhiều. Tổ luôn khuyên bảo đồ chúng lo tinh tấn tu hành, cố gắng giữ gìn chính pháp, một lòng một dạ với sự nghiệp lợi sanh. Tổ sắp xếp ngôi thứ trong Tổ đình Thiên Thai và nhiệm vụ truyền pháp độ sanh trong môn đệ.

Qua năm sau (1944) Tổ lại trở về chùa Thiên Tôn - Bình Định và đến ngày 11 tháng 7 năm Quý Tỵ (1953) Tổ ngồi kiết già, hướng mặt về Tây, niệm Phật và viên tịch. Tổ trụ thế 81 năm, 50 năm hạ lạp. Bảo tháp Tổ được xây dựng trên sườn núi Ông Đốc cạnh chùa.

Công hạnh và đạo nghiệp rực rỡ của Tổ còn lưu giữ qua việc trước tác nhiều thơ văn Nôm. Các kinh điển được Tổ diễn Nôm thường tụng còn lưu truyền rộng rãi cho đến ngày nay:

                       - Kinh Vu Lan nghĩa.
                       - Kinh Di Đà nghĩa.
                       - Bát Nhã Tâm Kinh nghĩa.
                       - Tịnh Độ Chánh Tông.
                       - Bài sám Thảo lư.

Tóm lại, Tổ Huệ Đăng gương sáng tiêu biểu Phật giáo yêu nước phụng đạo, sâu xa hơn là “tâm nguyện lợi sanh”. Nghĩa “lợi sanh” ban đầu của Tổ là tinh thần yêu nước làm cho quốc gia cường thịnh, dân chúng no cơm ấm áo. Nghĩa “lợi sanh” thứ hai là phụng đạo, đem giá trị đạo đức, lời dạy chư Phật chư Tổ khai sáng tâm linh cho mọi người giữa biển trầm mê. Tổ dạy người tu:

Một lòng hỷ xả từ bi
Mặc ai phỉ báng phước liền về ta
Đạo cao nên mới nhiều ma
Đức dày mới có người ta báng bài
Có tài nên mới có tai
Những người ngu độn có ai nói gì
Ngày nào chẳng có thị phi
Tai không nghe tới vậy thì như không
Nhiều nước nên mới thành sông
Nhiều người phỉ báng nên ông tu hành
Vì Đạo nên chịu cam chanh
Vì có kẻ dữ người lành mới nên

Vì vậy, noi theo tấm gương sáng của Tổ, người tu theo tông Thiên Thai lấy việc tu hành theo kinh Pháp Hoa là chính yếu; tất cả các việc khác, xem như phước báo do tu mà có được. Tu hành chân chính, tạo được phước càng lớn, y báo sẽ lớn theo. Ý thức như vậy, chúng ta không khởi vọng tâm tham đắm trên bước đường hành đạo. Thực tâm tu hành, tất cả những gì xảy ra thuận nghịch, tốt xấu, chúng ta đều được Phật, Bồ tát và chư Thiên nhắc nhở, giúp người tu không bị lạc đường.

                                                                                                           Thích Nguyên Hạnh


Các tin khác
Trang

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 301
Pháp Âm: 1219
Đang truy cập
Hôm qua: 146
Tổng truy cập: 463242
Số người đang online: 14