tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP

Vì sao ta quy y?

Thứ 3 | 26/11/2019
Cho đến khi nào biết được quy y, con người mới có định hướng về một con đường tốt đẹp, thực hành điều thiện, tránh xa điều bất thiện để cuộc đời không phải chỉ là những lỡ lầm, tội lỗi v.v…

I. DẪN NHẬP

Rất nhiều người rất thích đi chùa lễ Phật vào những ngày rằm, mồng một dâng hương – hoa – quả cúng dường lên ngôi Tam Bảo với lòng thiết tha thành kính, với niềm ước vọng được sống an lành hạnh phúc. Cũng có vị mang nỗi niềm sầu khổ phiền lụy… đến chùa ngồi xếp bằng ở một góc chánh điện, thật trang nghiêm, thật lặng lẽ, thật thành kính chiêm ngưỡng đức Phật trên tòa sen, và thì thầm tâm sự với Phật. Có những vị việc làm lỡ lầm, tội lỗi… quỳ sám hối trước Phật để cho lòng được vơi nhẹ. Nhưng khi được hỏi đã quy y chưa? Pháp danh là gì? Họ ngơ ngác chẳng biết quy y là gì? Và tự hỏi vì sao phải quy y? Họ chưa quy y nên họ mãi lặn ngụp trầm luân trong biển khổ, không tìm thấy đâu là bến bờ giải thoát an lạc và cứ mãi trượt dài trong uất ức phiền não... Cho đến khi nào biết được quy y, con người mới có định hướng về một con đường tốt đẹp, thực hành điều thiện, tránh xa điều bất thiện để cuộc đời không phải chỉ là những lỡ lầm, tội lỗi v.v…

Muôn lối bi ai, vạn nẻo sầu
Cuộc đời biển khổ chứa thương đau
Pháp môn cửa Phật từ bi đón
Giải thoát chúng sinh mọi khổ sầu

Lòng trần vướng bận bao phiền não
Ánh sáng tòa sen phép nhiệm mầu.
Con thuyền khai Ngộ trên bến Giác.
Nhìn dòng sông mê chảy về đâu?       
(Thanh Bình)

 



II. NỘI DUNG

          1. Định nghĩa

Vậy quy y là gì? Chữ “quy” là quay về, trở về; “y” là y cứ hay nương tựa. Vấn đề được đưa ra thảo luận là quy y nương tựa vào đâu? Mỗi người cần tư duy, tránh say mê lầm lạc, lựa chọn cho mình nơi quy y nương tựa. Vì quy y nương tựa thiếu suy nghĩ rơi vào thầy tà, bạn dữ đưa đến cuộc sống khổ ải, trầm luân, sa đọa; nương tựa với cha mẹ, vợ chồng, anh em, bạn bè, thì không hoàn toàn an lành. Cho nên, con người cần quay về y cứ hay nương tựa với chánh pháp, với ngôi Tam Bảo đó là Phật-Pháp-Tăng. Tam Bảo được được gọi là “bảo” là quý báu, vì Tam Bảo như chiếc thuyền đưa chúng sanh vượt qua biển sanh tử, không còn cảnh luân hồi khổ nạn.

2. Nương tựa Tam Bảo

a) Nương tựa với Phật

Nương tựa đấng từ bi bình đẳng, như ông cha lành. Phật là một đấng giác ngộ hoàn toàn, toàn năng, toàn trí, toàn đức, là cha lành của chúng sanh, là thầy của mười pháp giới (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A-tu-la, Người, Trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật) và ba cõi (Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới). Phật là một bảo hiệu chung cho tất cả những bậc tu hành đã giác ngộ, đầy đủ vô lượng phước đức và trí huệ.

b) Nương tựa với Pháp

Nương tựa vào phương pháp giải khổ, như thuốc tốt chữa lành bịnh tật. Pháp là khuôn phép, là giáo lý phân tích rõ ràng sự khổ não, vạch rõ nguyên nhân của khổ và đề ra phương pháp diệt trừ khổ. Nếu mỗi người y theo giáo pháp ấy mà tu hành, thì sẽ được thoát ly sanh tử, chứng thành Phật quả. Cho nên, trong kinh nói rằng: “Pháp là mẹ sanh ra chư Phật”.

c) Nương tựa với Tăng

Nương tựa vào những bậc đại trí hoằng pháp lợi sanh, mới thật là hoàn toàn an lành. Chữ Tăng (Tăng già) nghĩa là một đoàn thể đệ tử xuất gia (từ bốn vị Tỳ Kheo trở lên) thoát ly thế tục, sống đời phạm hạnh, là một hội chúng hòa hợp không chống trái nhau, như nước với sữa. Tăng là những người đang thực hành những giáo pháp của Phật và thay Phật diễn thuyết chánh pháp giải thoát.

Tam bảo có đủ công đức như thế. Cho nên, Phật - Pháp - Tăng là ba ngôi quý báu nhất của thế gian và xuất thế gian. Nếu người nào phát tâm quy y thì không đọa vào ba đường dữ, luôn được Tam Bảo gia hộ, sớm chứng quả bồ đề.

3. Ba bậc Tam Bảo

                                     - Đồng thể Tam bảo.
                                     - Xuất thế Tam bảo.
                                     - Thế gian trụ trì Tam bảo.

  1. Đồng thể tam bảo

 

  1. Đồng thể Phật bảo: Phật và chúng sanh có cùng thể tính như nhau, đó là Phật tánh.
  2. Đồng thể Pháp bảo: Phật và chúng sanh có cùng pháp tánh từ bi, bình đẳng.
  3. Đồng thể Tăng bảo: Phật và chúng sanh có cùng thể tánh thanh tịnh, sự lý hòa hợp.

Ngay trong tâm Phật và chúng sanh có đầy đủ ngôi Tam Bảo, trong mỗi người ai cũng có Phật tánh, ta phải tự quay về với tâm Phật của mình, đó là trở về giữ cho tâm mình luôn luôn thanh tịnh. mỗi người phải tự quay về Pháp tánh của mình, tức là trở về với tâm từ bi, bình đẳng sáng suốt, lòng nhẫn nhịn... mỗi người cũng phải tự quay về với bản tánh thanh tịnh hòa hợp của mình với mọi người chung quanh, nhất là những người bạn đạo cùng tu cùng học với nhau, là tự quay về với chính mình, ngày ngày phải tu tâm sửa tánh.

  1. Xuất thế tam bảo

 

  1. Xuất thế gian Phật bảo: Đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà... là những vị đã thành Phật, không còn ràng buộc sanh tử luân hồi ở thế gian nữa.
  2. Xuất thế gian Pháp bảo: Là những phương pháp của Phật dạy cho chúng sanh tu tập để giải thoát khỏi luân hồi, như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ Ba La Mật...
  3. Xuất thế gian Tăng bảo: Là những bậc Thánh Tăng, là những vị Bồ Tát, đã ra khỏi thế gian như: Đức Quán Thế Âm, Đức Đại Thế Chí...

Trong kho tàng tâm thức ai cũng có xuất thế gian Tam bảo, nghĩa rằng mọi người đều có khả năng trở thành một vị Phật; đầy đủ diệu dụng phương tiện thiện xảo dạy cho chúng sanh tu tập để giải thoát khỏi luân hồi, như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ Ba La Mật...  để mình và chúng sanh đều là những bậc thánh Tăng (Bồ tát, Duyên giác, A La Hán ra khỏi thế gian. Trong kinh Pháp Hoa, Phật từng nói:, “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật đang và sẽ thành”. Nói như vậy, nếu như mỗi người thực hành giống như Phật buông bỏ mọi tham đắm, ái nhiễm dục lạc, thì ta không còn ràng buộc giữa sanh tử luân hồi.

  1. Thế gian trụ trì tam bảo

 

  1. Thế gian trụ trì Phật bảo: Là xá lợi Phật, răng Phật, tóc Phật,... tượng Phật, ảnh Phật chúng ta để thờ tự. Khi đức Thế Tôn còn tại thế, lúc gửi tóc Phật, cho vua Tần Bà Xa tại thành Vương Xá, Ngài dặn rằng: "Tóc và móng tay thừa của ta, đại vương nên thờ trên trang, còn đạo lý của ta, đại vương thờ trong tâm."
  2. Thế gian trụ trì Pháp bảo: Là Tam tạng kinh điển; Kinh, Luật, Luận chúng ta dùng để tu học.
  3. Thế gian trụ trì Tăng bảo: Là những vị tăng tu hành chân chính, giới hạnh trang nghiêm trong đời hiện tại.

Con người ngày nay tâm xa Phật quá lâu, để có thể từng bước lần về tâm sáng suốt, mỗi người cần có thế gian trụ trì Tam bảo, nghĩa là thờ phụng đức Phật bên ngoài để nhớ đến Phật ở trong tâm; chuyên cần đọc tụng và hành trì Tam tạng kinh điển; Kinh, Luật, Luận để tu và học; luôn gần gủi những vị tăng tu hành chân chính, giới hạnh trang nghiêm trong đời hiện tại để học hỏi tiến tu.

4. Sự lý quy y Tam Bảo

Mặc dù quy y Tam bảo gồm có ba bậc, nhưng đứng ở góc độ khác, thì quy y Tam bảo có hai phần, hình thức bên ngoài còn gọi là sự quy y Tam bảo, và bên trong còn gọi là Lý quy y Tam bảo.

  a) Sự quy y Tam Bảo

Đó là sự việc, là việc làm hàng ngày của mọi người nên cung kính lạy Phật, nỉệm danh hiệu Phật, tưởng nhớ đến Phật. Tụng kinh, đọc kinh sách để hiểu rõ nghĩa lý lời Phật dạy để tu tập cho đúng phương pháp, trí tuệ được mở mang, củng cố đức tin ngày càng vững mạnh hơn.

Hơn thế nữa Phật dạy, “Kính Phật thì phải trọng Tăng”, chuyện Con Sư Tử Trọng Pháp sau đây nói lên ý nghĩa này: Thời mạt pháp của Đức Phật Tỳ Bà Thi, trong núi kia có những vị Bích Chi Phật tu hành, có con sư tử Kiên Thệ lông rất đẹp, sức mạnh vô địch, có một vị Bích Chi Phật tâm từ rất lớn làm cho sư tử Kiẻn Thệ kính phục, thường đến gần để nghe tụng kinh, thuyết pháp.

Có một tên thợ săn thấy sư tử Kiên Thệ có bộ lông đẹp muốn giết lấy lông dâng lên vua để được ban thưởng, tên thợ săn lại sợ sức mạnh của sư tử Kiẻn Thệ, lập mưu mặc áo cà sa, làm cho sư tử Kiên Thệ tưởng là Bích Chi Phật nên đến gần, tên thợ săn liền lấy mũi tên có tẩm thuốc độc ra bắn sư tử Kiên Thệ, bị trúng tên sư tử Kiên Thệ vẫn còn sức mạnh, muốn vồ chết tên thợ săn gỉa làm sa môn kia, nhưng nó nghĩ lại, người mặc áo cà sa là biểu hiệu của Phật trong ba đời, ta không được phép xúc phạm đến biểu hiệu cao quý đó, ba lần định vồ, ba lần kịp suy nghỉ, thuốc thấm dần, sư tử Kiên Thệ chịu chết.

Tên thợ săn giả hiệu độc ác kia lột lấy bộ da đẹp đem dâng cho vua, vua nghe thuật lại chuyện, biết con sư tử đã hy sinh thân mạng mình để giữ trọn sự tôn kính chư Phật, nhà vua liền ra lệnh chém tên thợ săn và cho làm lễ hỏa thiêu con sư tử như lễ trà tỳ của một vị sa môn. Con sư tử Kiên Thệ là tiền thân của Đức Thích Ca Mâu Ni.

         b) Lý quy y Tam Bảo

         Lý quy y Tam Bảo có nghĩa là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt của tâm mình. Phật Thích Ca đã dạy, mỗi người đều có Phật tánh sáng suốt, không hư vọng. Nhưng Phật tánh của mỗi người bị mê lầm, vọng tưởng che lấp. Vọng tưởng như mây mờ, Phật tánh như trăng. Mây mờ có thể che khuất, chứ không thể tiêu diệt được trăng sáng. Phật tánh chúng ta bị vọng tưởng vô minh che lấp sâu kín đến đâu cũng vẫn thường còn. Vậy thì sao mỗi người chúng ta lại bỏ quên Phật tánh của chúng ta, mà chỉ chạy theo cầu khẩn Phật bên ngoài; như đứa con "cùng tử" có viên ngọc Ma Ni quý giá, được giấu sẵn trong chéo áo mà không biết sử dụng, lại cam tâm đi xin ăn cùng khắp mọi nơi! Thật đáng thương thay!

5. Lý do quy y Tam Bảo

a) Quy y Phật khỏi đọa vào Địa ngục

Về chùa nhìn thấy đức Phật ngồi an tịnh trên tòa sen, mọi người sẽ thấy gương hạnh lành của Phật, tự tại ung dung, bình thản trước cuộc đời đầy dung tục. Còn con người chạy theo bao ham muốn dục vọng mong cầu của cá nhân không biết ngừng nghỉ trước năm món: Tiền tài, sắc đẹp, danh lợi, ăn uống và ngủ nghỉ, hoặc theo đuổi năm mong cầu: sắc đẹp, thanh tốt, hương thơm, vị ngon, xúc chạm; với tư duy đó, thì làm sao có thể trở thành người an tịnh. Khi con người không biết buông bỏ, thì liệu họ có tìm thấy sự bình thản nơi tâm hồn. Như câu chuyện của một người Phật tử nghèo có mấy đứa con, vì thấy con mình cơ cực cho nên bà mới bán một miếng đất và hi vọng với số tiền bán đất bà chia cho con có vốn làm ăn, cuộc đời của chúng sẽ đở vất vả hơn. Nhưng bà không thể nào ngờ tới một điều là các con bà đã kiện bà vì bà chia tiền không đều, bà đã khóc hết nước mắt. Những đứa con của bà khi chưa có tiền bán đất đứa nào cũng dễ thương, đứa nào cũng thương mẹ, đứa nào cũng biết thương nhau. Bây giờ, có tiền rồi không ngày nào bà được yên ổn, phân chia cách nào chúng cũng không chịu, không chấp nhận. Thế mới thấy “đồng tiền đi liền khổ não”. Chỉ vì đồng tiền mà quyết tranh quyết đấu lẫn nhau, sẵn sàng đạp đổ nhau, đâm chém nhau, cấu xé nhau, dùng những lời lẽ xấu xa, thô tục nhất để thóa mạ nhau.

Cuộc đời của Thế Tôn trước khi xuất gia, là một vị Thái Tử sống trong nhung lụa, vàng son thành Ca Tỳ La Vệ. Ngài có vợ đẹp là công chúa Da Du Đà La, con ngoan La Hầu La. Ngài có cả hoàng cung tráng lệ thích hợp theo ba mùa. Ngài có cả hàng trăm cung nữ luôn theo hầu hạ, đàn vui múa hát. Ngài không hề thiếu thốn trong cuộc đời, thế mà tại sao Ngài luôn thấy bất an? Cái gì đã khiến cho Ngài luôn ưu tư? Đi dạo bốn cổng thành, Ngài thấy cảnh một người quá già lung còng đi không nổi; một người bệnh đau khổ không nguôi; một người đã chết bất động. Bình thường lúc sống người ta hay la mắng người khác, khi chết nằm im lìm bất động mặc cho ruồi bu kiến đậu. Cuối cùng, cuộc đời con người còn lại gì sau khi hỏa táng? và thái tử Sĩ Đạt Đa nhìn thấy cảnh người mặc áo vàng xuất gia tu đạo. giải thoát. Ngài liền nghĩ cần phải ra đi tìm con đường để nương tựa an vui giải thoát.

Là con người ai cũng thích trẻ mãi không già, mạnh mãi không đau, sống hoài không chết. Nhưng bản chất thật giữa cuộc đời, dù thích hay không thích, thì con người cũng phải đầu hàng trước quy luật sanh – già – bệnh – chết. Thế nên, mọi người cúi mình kính ngưỡng một vị thái tử đã dũng mãnh buông bỏ tất cả để ra đi tìm chân lý. Ngài dã thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác dưới cội Bồ đề,  Ngài thấy rất rõ ý nghĩa cuộc sống, Ngài đã mở ra cánh cửa bất tử cho chính mình và nhân sanh.

Có người hỏi Phật đã mở ra con đường bất tử, vậy bây giờ Ngài đã đi đâu? Bởi vì khi tuổi 80, Ngài đã đến Câu Thi Na (Kushinagar) nhập diệt, và nhục thân, thân xác của Ngài cũng bị hỏa táng, thế thì tại sao lại nói Ngài bất tử? Thành tựu “bất tử” có nghĩa rằng từ nay Ngài không còn “tái sanh luân hồi” chứ không phải giữ thân xác giả tạm vay mượn này trẻ mãi. Ngài về thế giới của chư Phật, không còn bị “Nghiệp” dẫn vào cánh cửa sanh tử luân hồi. Còn chúng sanh vì mê mờ luôn bị “Nghiệp” là hành động tạo tác từ hành vi, lời nói và tư duy suy nghĩ, mà mãi lăn ngụp sanh tử lên xuống trong sáu nẻo luân hồi (Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, người và trời) vô tận không ngừng nghĩ.

Đức Phật, sau khi thành tựu Chánh đẳng Chánh giác, Ngài gặp gỡ chúng sanh có duyên, muốn nghe giáo pháp giải thoát với Ngài để đưa họ ra khỏi con đường hiểm nạn. Không có tai họa hay bất cứ tai ương, không bị nghèo khổ. Ngài nói cho mọi người biết, rồi lại vào Niết Bàn trong trạng thái an lạc và tĩnh lặng.

Mọi người muốn vào cánh cửa Niết Bàn bất tử, cần phải học và hiểu thân này là do vay mượn từ đất, nước, gió, lửa, mà tạo thành. Không nên đắm chấp vào thân, không nên bi lụy cung phụng trước những đòi hỏi của thân để rồi khổ não. Có những người cả đời phải lận đận trong vòng luẩn quẩn đó. Cho nên ai nghĩ mình có thân xác này mà gọi là sung sướng đó là một sai lầm. Chính Lão Tử đã từng than thở: “Ta, trong cuộc đời có một cái khổ lớn vì ta có cái thân, nếu không có thân ta đâu có khổ

Chúng ta cần sử dụng cái thân này thật tốt, biết đi chùa, tụng kinh, niệm Phật, để không còn vào ra sanh tử giữa thế gian và có một cuộc sống  an lành hạnh phúc. Thế nhưng, giữa cuộc đời này rất nhiều người không biết điều đó, giờ này vẫn còn mơ mộng kiếm tìm năm món dục lạc (tiền tài, sắc đẹp, danh lợi, ăn uống, nghỉ nghỉ) chưa hề biết chán. Tại sao vậy? Chỉ vì mê đắm để rồi khổ não. Chẳng hạn, câu chuyện phú hộ giàu có khi chết không người thừa kế. Toàn bộ gia sản của ông đều được sung vào công quĩ nhà vua. Nhà vua Ba Tư Nặc đến nhà ông niêm phong, đem toàn bộ số tài sản đó về nhập kho của quốc gia. Trên đường về nhà vua ghé qua Tinh Xá Kỳ Viên. Đức Phật hỏi: Thưa Đại Vương đi đâu vậy? Nhà vua trả lời: - Hôm nay con đến nhà ông giàu có nhất thành Xà Vệ này đem tài sản về chuyển vào kho. Ông phú hộ chết không có vợ con, con tự hỏi người này cả đời khổ cực kiếm tiền lúc chết không giữ được, khi nằm xuống thì toàn bộ số vàng đó sẽ đổi chủ. Như vậy thì tại sao ông ta lại lận đận một đời vì tiền, vì tài sản.

Chúng ta cần phải xác định kiếm tiền để làm gì? Kiếm tiền chỉ phục vụ cho ba nhu cầu: ăn, mặc, ở. Chúng ta làm tiền ít hay nhiều cũng đều phục vụ cho ba nhu cầu cần thiết đó thôi. Kiếm tiền cho mình đủ ăn là được rồi, thế mà họ vẫn mãi mê chưa biết dừng lại. Cả ngàn cây vàng trong tay, ăn cả mấy đời cũng không hết, mà vẫn rơi vào trạng thái ăn không ngon, ngủ không yên. điều đó đâu có lợi gì cho bản thân, đâu được hạnh phúc gì.

Như câu chuyện khác, có hai ông bà rất giàu, vàng khối trong nhà, nhưng họ ăn uống rất kham khổ, mặc đồ cũ nát, căn nhà thì lụp xụp. Một người quen biết với hai ông bà thấy nhà có tiền mà sống khổ, hỏi ông bà sao lại sống quá khổ như vậy? Ông bà trả lời chi để dành tiền sướng hơn! Đến khi ông bà chết thì người ta mới phát hiện nhà của ông bà có rất nhiều vàng. Nói như vậy để thấy giữa thế gian này có những điều kỳ lạ ta khó tưởng tượng nổi. Đứng trên góc độ nhà Phật, ông bà đó bị một cái nghiệp có tiền mà hưởng thụ không được. Kiếp trước ta tạo nhân gì mà khiến mình như vậy? Đó là do bố thí mà vẫn còn hối tiếc. Cho nên, ta cần học pháp để biết, cái biết đó giúp ta cải tạo thân tâm, cải tạo hoàn cảnh, nhờ đó mà có cuộc sống tốt hơn.

Thậy vậy, khi con người còn chưa làm chủ được tham-sân-si, thì con người không thể tìm thấy hạnh phúc an lành. Trong kinh Phật dạy, “Này các thầy Tỳ kheo, nếu trong thất các ông có 3 con rắn độc chui vào, lúc đó các ông có ngủ ngon được không?” “Kính bạch đức Thế tôn, chúng con ngủ không được ngon ạ.” Phật hỏi, “vậy làm sao các ông mới ngủ được ngon?” Cả hội chúng đồng thưa, “chừng nào chúng con đuổi được 3 con rắn độc ra khỏi nhà, chừng đó chúng con mới ngủ được ngon.” Phật nói, “đúng vậy, chừng nào quý thầy đuổi được 3 con rắn độc đó ra khỏi nhà thì mới ngủ được yên; nhưng 3 con rắn độc đó chưa độc bằng ba thứ độc tham lam, sân giận và si mê. Rắn độc chỉ cắn chết thân này, còn tham-sân-si tạo nghiệp luân hồi, chịu khổ trong vô số kiếp không biết khi nào thôi dứt”. Nên vì thế, con người khi phát tâm quy y là nương tựa  Phật lấy giáo pháp làm thuốc hay loại bỏ 3 thứ độc là tham-sân-si.

  • Tham dục: Người nào mà tham nhiều thì không thấy được cái nguy hiểm, chỉ thấy huê lợi vô nhiều quá tối mắt. Có nhiều người chơi sàn chứng khoán một đêm thôi có thể dễ dàng kiếm vài trăm triệu, nhưng cũng có người chỉ một đêm thôi trắng tay và chẳng dám nhìn ai. Nói như vậy, sống ở đời thì đừng có tham, tham nhiều quá thì không có đường quay trở lại. Phật cũng có dạy, “Tham dục nhiều, khổ lụy càng nhiều”, hoặc câu “Thiểu dục tri túc” (Muốn ít biết đủ) thì cuộc đời sẽ đầy ắp những niềm vui.
  • Sân hận: đối với sân hận, theo nhà Phật, như ngọn lửa đỏ có thể thiêu cháy tất cả. Ai nuôi dưỡng cơn sân hận trong lòng là đang tình nguyện đưa ngọn lửa thiêu đốt “tâm” thành tro bụi, làm cho mỗi hành động của ta mang tính hủy diệt và mối quan hệ giữa tình người, kể cả với người thân trở thành nội kết khổ đau. Người thế gian thường nói “giận quá mất khôn”. Trong lúc sân hận tâm trí ta bị u mê tức tối, giận người ta đâu có niềm vui an lạc, trái lại luôn quyết định sai lầm.
  • Si mê: Si mê là một loại tà kiến luôn hiện hữu trong tâm của mỗi người. Si mê chi phối mọi tư duy, lời nói, hành động của chúng ta. Giống như một đang bệnh, bất cứ một quyết định đưa ra đều trong trạng thái tâm lờ đờ không minh mẫn. Tuy nhiên con người cứ chấp chặt và nghĩ rằng quyết định của mình là đứng đắn, buộc khác cùng làm theo mình, ai không là sẽ bị sai.

Mỗi người chỉ cần trở về nương tựa Phật, với tánh giác sáng suốt, tham-sân-si không còn, thì làm gì bị rơi vào chốn địa ngục. Bởi địa ngục là nơi tăm tối theo nghĩa đen, còn nghĩa bóng là chỉ cho tâm hồn bị phiền não cấu nhiễm gặm nhắm làm cho tâm trạng luôn bị bức bách khó chịu.

b) Quy y pháp khỏi đọa vào Ngạ quỉ

Đức Phât đã dạy các thầy Tỳ kheo, khi nào chưa chứng quả A-la-hán (quả giác ngộ sáng suốt hoàn toàn), thì các con đừng tin tưởng vào tư duy, suy nghĩ của mình, bởi vì suy nghĩ đó chưa chắc đúng, ngoai trừ diệt hết tam độc là tham-sân-si và màn vô minh chi phối tan biến, thì ngày đó, tâm trí ta mới sáng suốt để nói đúng, làm đúng và nghĩ đúng. Đây là lý do mà ta cần phải quy y pháp.

Chánh pháp là lời dạy của Đức Thế Tôn để ta định hướng cuộc đời của mỗi người. Trong kinh Di Giáo đức Phật dạy trước lúc đi xa: “Này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?” Chánh pháp ví như ngọn đèn sáng soi đêm tăm tối để mỗi bước chân ta không có hiểm nạn, hầm hố, vực sâu… Nếu quy y Pháp, thực hành theo pháp, thì cuộc đời con người sẽ bằng phẳng bình yên. Nếu không quy y các vị rơi vào trạng thái đau khổ và than trách sao cuộc đời bất công, đó là lỗi tại ai? Tại mình thôi vì mình đã đi vào con đường hiểm nạn, ai lỡ vào con đường đó xin hãy quay trở lại, về nương tựa Phật-pháp-tăng chỉ có con đường đó là an lành nhất.

Quy y Pháp, ta thành tựu sáng suốt của Phật, thấy biết điều nào đúng, điều nào sai, điều nào nên làm và điều nào không nên làm. Chẳng hạn, người bố thí hay giúp đỡ người vận chuyển ma túy, heroin… không thấy phước đâu mà thấy mình bị tai họa vào tù. Lý do ta bị mang vạ vì tội tiếp tay làm lũng đoạn và đầu độc xã hội. Vì thế, ta đem tiền giúp kẻ nghèo khổ thì ta có phước, nhưng nếu giúp người xì ke thì ta chỉ làm hại tiếp tay cho người nghiện chứ không có chút công đức nào hết. Cũng vậy, như hai người đồng thời đi bố thí, một người được phước, một người đã không có phước còn bị tù tội. Và rất khó phân biệt được đúng sai, đối với một người không tỉnh trí. Chúng ta đang sống ở thế gian bị tiền tài, danh lợi, sắc đẹp làm mờ con mắt…thì làm sao thấy được cái gì tốt đẹp giữa cuộc đời. Do đó, trong Luận Bảo vương Tam muội có dạy “Thấy lợi đừng nhúng tay vào, nhúng tay vào thì hắc ám tâm trí

Nếu một người thật sự trở về nương tựa chánh pháp, với thể tánh bình đẳng, trải rộng lòng từ bi yêu thương muôn loài, không còn tâm keo kiết bỏn xẻn, luôn giúp đỡ mọi người thoát khổ được vui. Người có tâm như thế, thì không còn bị tái sanh vào loài quỷ đói (ngạ quỷ), do nhân bỏn xẻ mà sinh ra quả đau khổ đó.

c. Quy y Tăng khỏi đọa vào Bàng sanh

Chữ “Tăng” là chỉ một đoạn thể (bốn Thầy trở lên) của những người đang đi theo cuộc đời phạm hạnh, những người tỉnh thức đang thực hành, tu tập và có nguyện rộng truyền lời Phật dạy với tâm nguyện “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Đức Phật từng dạy các thầy: "Hỡi các Tỳ kheo! Như Lai đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian, các ông cũng vậy... Này các Tỳ kheo, hãy đi vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. Các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngả, hãy truyền bá chánh pháp. Này các Tỳ kheo, chánh pháp toàn thiện ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn. Hãy tuyên bố về cuộc sống toàn thiện và thanh tịnh... Chính Như Lai cũng đi, Như lai sẽ đi về hướng Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa) ở Sanànigàma để hoằng dương giáo pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; được vậy, là các ông đã hoàn tất nhiệm vụ" (Mahavagga - Ðại Phẩm 19, 20).

Quay về nương tựa Tăng sống theo chân lý, không có chút tà tâm sái quấy, có tâm hồn trong sáng, luôn giữ gìn đức hạnh:

  • Không sát sinh hại vật
  • Không trộm cắp lấy của không cho
  • Không tà hạnh tà dâm
  • Không nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói ác khẩu, nói thêu dệt
  • Không uống rượu, chất gây say.

Ngược lại, sống với một tâm hồn si mê u tối, không luân thường đạo đức, không phân biệt phải trái, tốt xấu, hành động càn bướng, đó là nếp sống đọa lạc sẽ rơi vào đọa xứ của loài bàng sanh hay súc sanh

6. Lợi ích quy y Tam Bảo

Ích lợi của việc quy y Tam Bảo rất nhiều, có thể cầu được hiện thế an lạc, có thể cầu cho đời sau an lạc, càng có thể từ đây mà được sự an lạc cứu cánh của Niết Bàn tịch tĩnh, tổng hợp lại có tám điều lợi ích :

  1. Trở thành đệ tử của Phật.
  2. Nền tảng của việc thọ giới.
  3. Có thể tiêu trừ nghiệp chướng.
  4. Có thể tích tập phước đức to lớn.
  5. Không đọa ác đạo.
  6. Người và phi nhơn không thể làm hại.
  7. Có thể thành công trong mọi việc lớn.
  8. Có thể thành Phật.

Ích lợi của việc quy y Tam Bảo, trong kinh Phật nói đến rất nhiều, nay chỉ đơn cử một vài ví dụ:

    1. Kinh Ưu Bà Tắc giới có nói: Nếu người quy y Tam Bảo thời trong tương lai sẽ được phước báo to lớn không thể cùng tận, ví như có được của báu mà người trong cả nước vận chuyển trong bảy năm cũng không hết được, công đức của việc quy y Tam Bảo còn lớn hơn thế gấp ngàn vạn lần.
    2. Kinh Triết Phù La Hán có nói xưa kia có một vị Thiên tử ở cung trời Đao Lợi khi phước trời đã hết, Thiên tử tự biết sẽ bị đầu thai vào loài heo, rất lấy làm lo sợ liền thỉnh cầu Thiên vương cứu giúp, Thiên vương không cứu được nên khuyên Thiên tử nên đến cầu cứu Phật. Phật dạy Thiên tử quy y Tam Bảo, nên sau khi chết không đọa vào loài heo, mà còn được sanh làm người, gặp Xá Lợi Phất học đạo chứng đắc thánh quả.
    3. Trong kinh Sát Cách Y Pháp Thiên Tử thọ Tam Quy có nói: Xưa có một vị thiên tử ở cõi trời Tam Thập Tam Thiên khi phước trời đã tận còn bảy ngày nữa sẽ chết, những sự hoan lạc, những thiên nữ đẹp không còn thân cận, những tướng mạo uy nghi đều đã thay đổi, mùi hôi bốc ra từ thân thể và thiên tử cũng biết rằng sẽ bị đầu thai vào loài súc sinh, Thiên vương biết được liền dạy thiên tử phát tâm quy y Tam Bảo sau bảy ngày thiên tử vãng sanh, Thiên vương muốn biết thiên tử sanh vào đâu, nhưng không thể quán chiếu thấy được bèn đến hỏi Phật. Phật liền dạy rằng: “Thiên tử nhờ công đức quy y Tam Bảo đã được sanh lên cõi trời Đâu Suất”.
    4. Kinh Hiệu Lượng Công Đức có nói: Nếu như có người xây Tháp cúng dường tất cả chư vị Thánh nhân chứng đắc nhị thừa trong Đông, Tây, Nam, Bắc tứ đại bộ châu, công đức tuy lớn nhưng vẫn không thể sánh bằng công đức quy y Tam Bảo.
    5. Kinh Mộc Hoạn Tử có nói ngày xưa có vị Tỳ kheo Sa Đẩu chuyên tụng trì danh hiệu của Tam Bảo trong suốt mười năm, chứng đắc sơ quả Tu đà hòan, nay ở tại thế giới Phổ Hương làm vị Bích Chi Phật.

Phật cũng đã từng dạy, nếu người quy y Tam Bảo thì được TĐại Thiên Vương, sai 36 vị thiện thần hộ trì, 36 vị thiện thần này còn có trăm ngàn vạn ức hà sa quyến thuộc cũng theo hộ trì người quy y Tam Bảo. Nhưng chúng ta cũng cần biết rằng, mặc dầu quy y Tam Bảo có thể cầu hiện thế bình an nhưng mục đích cuối cùng của việc quy y Tam Bảo vẫn là trở về và làm sống dậy tự tánh Tam Bảo trong mỗi người mới đúng là quy y Tam Bảo chân chánh vậy.

III. KẾT LUẬN

Tóm lại, quy y nói cho đầy đủ là quy y Tam bảo, là trở về nương tựa ánh sáng nhiệm màu của Phật-Pháp-Tăng. Có quy y Tam bảo con người mới có thể tự định hướng con đường của bản thân. Từ đó khai mở một chân trời giải thoát, đây là con đường tâm linh mà con người không thể nào không biết để tìm về nương tựa. Tam bảo như ngọn đuốc soi đường cho người ra khỏi bóng đêm dày u minh, tăm tối. Dưới ánh sáng trí huệ của việc quy y Tam bảo, con người sẽ thấy cuộc đời này tốt đẹp hơn. Và quan trọng hơn là biết chuyển hóa mọi chướng ngại, mọi tham – sân – si, mọi nổi khổ niềm đau để tìm thấy niềm vui an lạc trên con đường tu tập của mình.

Người quy y Tam Bảo như nghe văng vẳng lời bậc giới sư khai đạo: “Ba cõi không yên, như ở trong nhà lửa. Muốn xa lìa cõi khổ, thì phải nương về ngôi Tam Bảo. Người muốn thoát khỏi biển sanh tử luân hồi, không thể bỏ qua sự thọ trì giới pháp mà được. Giới như chiếc bè báu đưa người qua biển khổ; giới như đất bằng phẳng, muôn vật đều từ đấy phát sinh; giới như ngọn đèn sáng, chiếu phá các chỗ tối tăm; giới là con đường tắt đưa đến cõi nhơn thiên, là cửa ngỏ vào cảnh Niết Bàn. Nếu người nào giữ được thanh tịnh, cho đến trong giây phút quy y Tam Bảo, ở đời vị lai cũng được chứng quả Niết Bàn.”

Cho nên, Phật tử đã quy y Phật rồi, từ nay trở đi thà bỏ thân mạng, trọn không quy y Thiên thần và Quỉ vật. Vì Thiên thần và Quỉ vật kia còn bị luân hồi sanh tử, không phải là Thánh nhân xuất thế gian; quy y Pháp rồi, thà bỏ thân mạng, chớ không nghe theo những lời tà thuyết. Vì đó không phải là pháp môn vô lậu giải thoát; quy y Tăng rồi, thà bỏ thân mạng, chớ suốt đời không đi theo thầy tà bạn ác. Vì những vị đó không phải là người giải thoát chứng quả Tam thừa, họ sẽ dẫn dắt quý vị vào con đường tối tăm nguy hiểm.

Đã quy y rồi, phải thường nhớ Phật, niệm Phật, chán cõi Ta Bà này là nhiều khổ, cầu sau khi mạng chung thần thức sanh về nước Cực Lạc của Phật A Di Đà, liên hoa hóa sanh, sống mãi không phải sanh, già, bịnh, chết nữa. Theo lời Phật Thích Ca dạy: Đức Phật A Di Đà đang chờ đợi tiếp dẫn chúng sanh về Cực Lạc, nếu ai thành tâm chuyên niệm danh hiệu Ngài. Vậy mỗi vị phải có một xâu chuỗi mỗi ngày đêm niệm danh hiệu đức Phật, niệm càng nhiều càng tốt. Nên biết: Ngọc Ma Ni gieo vào nước đục, nước đục trở thành trong; câu hiệu Phật gieo vào tâm chúng sanh, tâm chúng sanh trở thành tâm Phật. Trong kinh có câu:

Chớ chờ đến già rồi mới niệm Phật,

Mồ hoang đồng cỏ lắm kẻ thiếu niên.

Phật tử! Người con Phật từ hôm nay trở đi, phải tinh tấn siêng năng học hỏi giáo lý của Phật dạy, rồi y theo đó mà tu hành, gieo hạt giống phúc lành, làm cái nhân tốt, về sau sẽ thành Phật quả.

                                                                               TK. Thích Nguyên Hạnh


Các tin khác
Trang

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 301
Pháp Âm: 1219
Đang truy cập
Hôm qua: 146
Tổng truy cập: 463237
Số người đang online: 19