tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP

Vì sao ta quy y?

Thứ 3 | 26/11/2019
Cho đến khi nào biết được quy y, con người mới có định hướng về một con đường tốt đẹp, thực hành điều thiện, tránh xa điều bất thiện để cuộc đời không phải chỉ là những lỡ lầm, tội lỗi v.v…

I. DẪN NHẬP

Rất nhiều người rất thích đi chùa lễ Phật vào những ngày rằm, mồng một dâng hương – hoa – quả cúng dường lên ngôi Tam Bảo với lòng thiết tha thành kính, với niềm ước vọng được sống an lành hạnh phúc. Cũng có vị mang nỗi niềm sầu khổ phiền lụy… đến chùa ngồi xếp bằng ở một góc chánh điện, thật trang nghiêm, thật lặng lẽ, thật thành kính chiêm ngưỡng đức Phật trên tòa sen, và thì thầm tâm sự với Phật. Có những vị việc làm lỡ lầm, tội lỗi… quỳ sám hối trước Phật để cho lòng được vơi nhẹ. Nhưng khi được hỏi đã quy y chưa? Pháp danh là gì? Họ ngơ ngác chẳng biết quy y là gì? Và tự hỏi vì sao phải quy y? Họ chưa quy y nên họ mãi lặn ngụp trầm luân trong biển khổ, không tìm thấy đâu là bến bờ giải thoát an lạc và cứ mãi trượt dài trong uất ức phiền não... Cho đến khi nào biết được quy y, con người mới có định hướng về một con đường tốt đẹp, thực hành điều thiện, tránh xa điều bất thiện để cuộc đời không phải chỉ là những lỡ lầm, tội lỗi v.v…

Muôn lối bi ai, vạn nẻo sầu
Cuộc đời biển khổ chứa thương đau
Pháp môn cửa Phật từ bi đón
Giải thoát chúng sinh mọi khổ sầu

Lòng trần vướng bận bao phiền não
Ánh sáng tòa sen phép nhiệm mầu.
Con thuyền khai Ngộ trên bến Giác.
Nhìn dòng sông mê chảy về đâu?       
(Thanh Bình)

 



II. NỘI DUNG

          1. Định nghĩa

Vậy quy y là gì? Chữ “quy” là quay về, trở về; “y” là y cứ hay nương tựa. Vấn đề được đưa ra thảo luận là quy y nương tựa vào đâu? Mỗi người cần tư duy, tránh say mê lầm lạc, lựa chọn cho mình nơi quy y nương tựa. Vì quy y nương tựa thiếu suy nghĩ rơi vào thầy tà, bạn dữ đưa đến cuộc sống khổ ải, trầm luân, sa đọa; nương tựa với cha mẹ, vợ chồng, anh em, bạn bè, thì không hoàn toàn an lành. Cho nên, con người cần quay về y cứ hay nương tựa với chánh pháp, với ngôi Tam Bảo đó là Phật-Pháp-Tăng. Tam Bảo được được gọi là “bảo” là quý báu, vì Tam Bảo như chiếc thuyền đưa chúng sanh vượt qua biển sanh tử, không còn cảnh luân hồi khổ nạn.

2. Nương tựa Tam Bảo

a) Nương tựa với Phật

Nương tựa đấng từ bi bình đẳng, như ông cha lành. Phật là một đấng giác ngộ hoàn toàn, toàn năng, toàn trí, toàn đức, là cha lành của chúng sanh, là thầy của mười pháp giới (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A-tu-la, Người, Trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật) và ba cõi (Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới). Phật là một bảo hiệu chung cho tất cả những bậc tu hành đã giác ngộ, đầy đủ vô lượng phước đức và trí huệ.

b) Nương tựa với Pháp

Nương tựa vào phương pháp giải khổ, như thuốc tốt chữa lành bịnh tật. Pháp là khuôn phép, là giáo lý phân tích rõ ràng sự khổ não, vạch rõ nguyên nhân của khổ và đề ra phương pháp diệt trừ khổ. Nếu mỗi người y theo giáo pháp ấy mà tu hành, thì sẽ được thoát ly sanh tử, chứng thành Phật quả. Cho nên, trong kinh nói rằng: “Pháp là mẹ sanh ra chư Phật”.

c) Nương tựa với Tăng

Nương tựa vào những bậc đại trí hoằng pháp lợi sanh, mới thật là hoàn toàn an lành. Chữ Tăng (Tăng già) nghĩa là một đoàn thể đệ tử xuất gia (từ bốn vị Tỳ Kheo trở lên) thoát ly thế tục, sống đời phạm hạnh, là một hội chúng hòa hợp không chống trái nhau, như nước với sữa. Tăng là những người đang thực hành những giáo pháp của Phật và thay Phật diễn thuyết chánh pháp giải thoát.

Tam bảo có đủ công đức như thế. Cho nên, Phật - Pháp - Tăng là ba ngôi quý báu nhất của thế gian và xuất thế gian. Nếu người nào phát tâm quy y thì không đọa vào ba đường dữ, luôn được Tam Bảo gia hộ, sớm chứng quả bồ đề.

3. Ba bậc Tam Bảo

                                     - Đồng thể Tam bảo.
                                     - Xuất thế Tam bảo.
                                     - Thế gian trụ trì Tam bảo.

  1. Đồng thể tam bảo

 

  1. Đồng thể Phật bảo: Phật và chúng sanh có cùng thể tính như nhau, đó là Phật tánh.
  2. Đồng thể Pháp bảo: Phật và chúng sanh có cùng pháp tánh từ bi, bình đẳng.
  3. Đồng thể Tăng bảo: Phật và chúng sanh có cùng thể tánh thanh tịnh, sự lý hòa hợp.

Ngay trong tâm Phật và chúng sanh có đầy đủ ngôi Tam Bảo, trong mỗi người ai cũng có Phật tánh, ta phải tự quay về với tâm Phật của mình, đó là trở về giữ cho tâm mình luôn luôn thanh tịnh. mỗi người phải tự quay về Pháp tánh của mình, tức là trở về với tâm từ bi, bình đẳng sáng suốt, lòng nhẫn nhịn... mỗi người cũng phải tự quay về với bản tánh thanh tịnh hòa hợp của mình với mọi người chung quanh, nhất là những người bạn đạo cùng tu cùng học với nhau, là tự quay về với chính mình, ngày ngày phải tu tâm sửa tánh.

  1. Xuất thế tam bảo

 

  1. Xuất thế gian Phật bảo: Đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà... là những vị đã thành Phật, không còn ràng buộc sanh tử luân hồi ở thế gian nữa.
  2. Xuất thế gian Pháp bảo: Là những phương pháp của Phật dạy cho chúng sanh tu tập để giải thoát khỏi luân hồi, như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ Ba La Mật...
  3. Xuất thế gian Tăng bảo: Là những bậc Thánh Tăng, là những vị Bồ Tát, đã ra khỏi thế gian như: Đức Quán Thế Âm, Đức Đại Thế Chí...

Trong kho tàng tâm thức ai cũng có xuất thế gian Tam bảo, nghĩa rằng mọi người đều có khả năng trở thành một vị Phật; đầy đủ diệu dụng phương tiện thiện xảo dạy cho chúng sanh tu tập để giải thoát khỏi luân hồi, như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ Ba La Mật...  để mình và chúng sanh đều là những bậc thánh Tăng (Bồ tát, Duyên giác, A La Hán ra khỏi thế gian. Trong kinh Pháp Hoa, Phật từng nói:, “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật đang và sẽ thành”. Nói như vậy, nếu như mỗi người thực hành giống như Phật buông bỏ mọi tham đắm, ái nhiễm dục lạc, thì ta không còn ràng buộc giữa sanh tử luân hồi.

  1. Thế gian trụ trì tam bảo

 

  1. Thế gian trụ trì Phật bảo: Là xá lợi Phật, răng Phật, tóc Phật,... tượng Phật, ảnh Phật chúng ta để thờ tự. Khi đức Thế Tôn còn tại thế, lúc gửi tóc Phật, cho vua Tần Bà Xa tại thành Vương Xá, Ngài dặn rằng: "Tóc và móng tay thừa của ta, đại vương nên thờ trên trang, còn đạo lý của ta, đại vương thờ trong tâm."
  2. Thế gian trụ trì Pháp bảo: Là Tam tạng kinh điển; Kinh, Luật, Luận chúng ta dùng để tu học.
  3. Thế gian trụ trì Tăng bảo: Là những vị tăng tu hành chân chính, giới hạnh trang nghiêm trong đời hiện tại.

Con người ngày nay tâm xa Phật quá lâu, để có thể từng bước lần về tâm sáng suốt, mỗi người cần có thế gian trụ trì Tam bảo, nghĩa là thờ phụng đức Phật bên ngoài để nhớ đến Phật ở trong tâm; chuyên cần đọc tụng và hành trì Tam tạng kinh điển; Kinh, Luật, Luận để tu và học; luôn gần gủi những vị tăng tu hành chân chính, giới hạnh trang nghiêm trong đời hiện tại để học hỏi tiến tu.

4. Sự lý quy y Tam Bảo

Mặc dù quy y Tam bảo gồm có ba bậc, nhưng đứng ở góc độ khác, thì quy y Tam bảo có hai phần, hình thức bên ngoài còn gọi là sự quy y Tam bảo, và bên trong còn gọi là Lý quy y Tam bảo.

  a) Sự quy y Tam Bảo

Đó là sự việc, là việc làm hàng ngày của mọi người nên cung kính lạy Phật, nỉệm danh hiệu Phật, tưởng nhớ đến Phật. Tụng kinh, đọc kinh sách để hiểu rõ nghĩa lý lời Phật dạy để tu tập cho đúng phương pháp, trí tuệ được mở mang, củng cố đức tin ngày càng vững mạnh hơn.

Hơn thế nữa Phật dạy, “Kính Phật thì phải trọng Tăng”, chuyện Con Sư Tử Trọng Pháp sau đây nói lên ý nghĩa này: Thời mạt pháp của Đức Phật Tỳ Bà Thi, trong núi kia có những vị Bích Chi Phật tu hành, có con sư tử Kiên Thệ lông rất đẹp, sức mạnh vô địch, có một vị Bích Chi Phật tâm từ rất lớn làm cho sư tử Kiẻn Thệ kính phục, thường đến gần để nghe tụng kinh, thuyết pháp.

Có một tên thợ săn thấy sư tử Kiên Thệ có bộ lông đẹp muốn giết lấy lông dâng lên vua để