tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP
Giáo hộc Lục Hòa hay Lục Hòa Liên Hiệp

Nhân ngày viên tịch 21-09-1919 (nhằm ngày 28-7 Kỷ Mùi) của Tổ thượng Chơn hạ Hương húy Minh Phương trụ trì Tổ đình Linh Nguyên, quận Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn (nay là Tỉnh Long An). Tổ thuộc dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ đời 38 đệ tử của Tổ Tiên Giác - Hải Tịnh trụ trì Tổ đình Giác Lâm - Tăng Cang (thời vua Minh Mạng), khai sơn Tổ đình Linh Nguyên, quận Đức Hòa vào năm 1820.

Tổ Minh Phương cũng là người có công khai mở trường Phật học Sông Tra, Đức Hòa vào cuối thế kỷ 19 (Trường Phật học đầu tiên của cả nước), nên đồ chúng đời thứ 39 dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ và các học tăng về chịu tang rất đông. Trong đó có các vị Hòa thượng như: Hòa thượng Thích Từ Phong, húy Như Nhãn (chùa Giác Hải, Chợ Lớn), Hòa thượng Thích Khánh Hòa, húy Như Trí (chùa Tiên Linh, Bến Tre), Hòa thượng Thích Chánh Thành, húy Như Vịnh (chùa Vạn An, Sa Đéc), Hòa thượng Thích Quảng Chơn, húy Như Nhương (Tổ đình Long Thạnh, Bà Hom, Bình Chánh), Hòa thượng Thích Quảng Sơn, húy Như Tiền (chùa Giác Hoàng, Bà Điểm Hóc Môn), Hòa thượng Thích Đạt Thanh, húy Như Thông (chùa Long Quang, Bà điểm, Hóc Môn, Gia Định), Hòa thượng Thích Hoằng Nghĩa, húy Như Phòng (Tổ đình Giác Lâm và Giác Viên, Gia Định), Hòa thượng Thích Thanh Ấn, húy Như Bằng (chùa Sắc Tứ Từ Ân, Chợ Lớn), Hòa thượng Thích Pháp Ấn, húy Như Quới (Tổ đình Phước Tường, Thủ Đức)… Hòa thượng Thích Chí Thiền, húy Như Hiển (chùa Phi Lai, Châu Đốc), Hòa thượng Thích Bửu Chung, húy Như Kim (chùa Phước Long, Đồng Tháp), Hòa thượng Thích Thiện Cang, húy Như Đạt (chùa Linh Nguyên, Đức Hòa), Hòa thượng Thích Từ Nhẫn, húy Như Đắc (chùa Linh Nguyên, Đức Hòa), Hòa thượng Thích Phước Hòa, húy Như Hoa (chùa Tân Sơn, Đức Hòa), Hòa thượng Thích Phước Chí, húy Như Nhẫn (chùa Phước Lâm, Trảng Bàng, Tây Ninh)…

Nhận thấy Phật pháp đang hồi suy vi, Tăng đồ đương lúc thất học, lại thiếu đoàn kết, tất cả chư tôn đức đồng thuận khởi động phong trào chấn hưng Phật giáo với tên “Hội Lục Hòa” lấy sáu pháp hòa kính lời Phật dạy cùng nhau tu học và hòa hợp đại chúng, với tôn chỉ “Tăng vô Lục hòa tăng vô sở trú” nghĩa là Tăng không đủ Lục hòa của Phật thì không nương tựa vào đâu mà bảo tồn được.

  • Ngày 27 tháng 3 năm 1920 (Nhằm ngày 8 tháng 2 Canh Thân), Hòa thượng Thích Từ Phong, húy Như Nhãn lập Hội Lục hòa Liên xã tại Tổ đình Giác Lâm, tỉnh Gia Định (lần 1).
  • Ngày 25 tháng 5 năm 1920 (Nhằm ngày 8 tháng 4 Canh Thân), Hòa thượng Thích Khánh Hòa, húy Như Trí lập Hội Lục hòa Liên hiệp tại chùa Tiên Linh, tỉnh Bến Tre (lần 1).

Năm 1922, chư sơn Hội Lục Hòa khai trường Hương (Khóa An Cư Kiết Hạ) tại Tổ đình Giác Lâm và cuối hạ có Khai Đàn Giới, chư sơn Lục Hòa Liên Xã đã cúng dường với câu đối:

Từ - Hải - Viên thông, khải tam hoàng, quang huy châu pháp giới

Thanh - Phong - Hoằng đạo, khai thất tụ, phổ tế độ nhân gian.

(Ngôi tam bảo Từ Ân, Giác Hải, Giác Viên, mở ba đàn tuyên bày, sáng ngời trong pháp giới

Bậc cao tăng Thanh Ấn, Từ Phong, Hoằng Nghĩa, khai bảy tụ tịnh giới, độ người  tại nhân gian)

Cùng khuynh hướng này, Tiến sĩ Lê Sơn trong một tham luận có tên Phật giáo vùng Mê Kông đã đi tiên phong trong đổi mới Phật giáo, đã cho rằng: “…Đặc biệt là trung tâm Nam bộ với ba nhà sư vùng Mê Kông là Hòa thượng Khánh Hòa, Hòa thượng Từ Phong cùng với sư trẻ Thiện Chiếu dốc lòng khôi phục bản đạo. Ban đầu họ lập ra “Lục hòa liên hiệp” để các sư bàn về nội bộ tăng đồ, kêu gọi chỉnh lý tăng đồ…”[1]

Trong Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang tức Hòa thượng Thích Nhất Hạnh có ghi rằng: “ở Việt Nam bắt đầu từ thiền sư Khánh Hòa ở chùa Tiên Linh, Bến Tre) và các đồng chí của ông năm 1923 nhân ngày giỗ tổ tại chùa Long Hòa, quận Tiểu Cần , Tỉnh Trà Vinh vào ngày 19-9 Quý Hợi, ông vận động mời tất cả chư tôn túc khắp miền Tiền Giang và Hậu Giang về Tiểu Cần để dự lễ, đồng thời để họp bàn về vấn đề chấn hưng Phật giáo. Kết quả là Hội Lục hòa Liên hiệp được thành lập, và tất cả những vị tôn túc có mặt trong buổi họp như Huệ Quang, Chí Thiền, Trí Thiền, Từ Phong, Chánh Quả, An Lạc, Huệ Định, Diệu Pháp đều đồng ý tham dự (tức tham gia vào Hội lục hòa Liên hiệp – Nam Việt).[2]

Nguyễn Lang tiếp tục khẳng định: “…Năm 1923 trong một buổi họp của đại diện các tổ đình tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, dưới sự hướng dẫn của ông, một tổ chức tăng sĩ được thiết lập gọi là Hội Lục hòa Liên hiệp với mục đích là vận động thành lập một hội Phật giáo Việt Nam toàn quốc làm cơ sở chấn hưng Phật giáo. Trong số những người cộng sự của ông, có một vị tăng sĩ trẻ đầy nhiệt huyết tên là Thiện Chiếu. Thiện Chiếu khác hẳn với hầu hết các tăng sĩ đương thời, vì ông là người tân học xuất gia…”.[3]

Sư Thiện Chiếu đã mạnh dạn đưa ra:

                 Cải cách Tăng đồ, đề xướng tự do, tuyên chánh pháp

                 Duy tân Phật học, thực hành bình đẳng độ quần sanh

Từ khi thành lập Hội Lục hòa Liên hiệp hoạt động tích cực với các hình thức như tổ chức Trường hương, giới đàn, các lớp giảng dạy kinh Phật…Hội thành lập được các tổ chức trực thuộc hoạt động trên từng lãnh vực như Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học, Lưỡng xuyên Phật học, Liên đoàn học xã, xuất bản được các tờ báo, tập san Phật học… nhằm chấn hưng Phật giáo, phổ truyền chánh pháp.

Tuy nhiên, một câu hỏi cần đặt ra là vì sao Hội Lục hòa Liên hiệp vốn quy tụ nhiều vị tôn đức chư tăng lại không tạo được ảnh hưởng? Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận đã phần nào giải đáp, có ba lý do cơ bản:

· Một là, Nặng về hình thức, thiếu thiết thực trong nội dung vận động. Nói về nguyên nhân này, Nguyễn Lang đã trích dẫn ngay những ý kiến đã đăng trên Báo Pháp Âm của ký giả Đông Giao trong một bài nhan đề Chấn Hưng Phật Giáo Phải Thực Hành Thế Nào Mới Thấy Kết Quả: “Cuộc chấn hưng Phật giáo không có ảnh hưởng, không có kết quả, bởi vì không thiết thực với xã hội nhân sinh, chỉ nói suông trong báo chí sách vở mà thôi chứ không có thực hành[4]

· Hai là, theo Nguyễn Lang “sự có mặt của những phần tử hữu khuynh trong các hội. Đây là một sự thực, thời nào cũng có. Những phần tử này xem một chức vị như hội trưởng hay phó hội trưởng của một cái hội là một thế đứng trong xã hội và họ không bao giờ chấp nhận sự đương đầu với những thế lực chính trị kinh tế thống trị. Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học với ông phó nhì hội trưởng Trần Nguyên Chấn là một ví dụ cụ thể.”[5] Về nhân vật Trần Nguyên Chấn, các tài liệu cho biết ông này là “cò mi” (commis), công chức hạng cao của Dinh Thống đốc Nam kỳ, người giàu có, phần nào mến mộ đạo Phật và có ảnh hưởng nhất định với chính quyền thuộc địa. Khi thành lập Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học, ông Chấn được cử làm Hội Phó, nhiều cơ sở nhà ở, chùa, trường lớp của Hội được xây dựng trên đất ông Chấn. Từ đó ông Chấn can thiệp dẫn đến thất bại các hoạt động của Hội. Về chi tiết này, Nguyễn Lang chua chát viết: “Chương trình của Khánh Hòa thất bại vì các thiền sư đã không nắm được thực quyền trong Hội. Hội đã bị một số cá nhân dùng địa vị trong xã hội của họ để khuynh loát và hướng dẫn về một nẻo khác. Ngay từ khi mới thành lập hội, ông Trần Nguyên Chấn đã vận động mời ông Khrautheimer (Thống đốc Nam Kỳ) làm Hội trưởng danh dự và ông Rivoal (Đốc lý thành phố Sài Gòn) làm Phó hội trưởng danh dự. Sự thỏa hợp với chính quyền là để nhằm vào an toàn và quyền lợi của hội. Tuy vậy, những quyền lợi đó không có gì đáng kể: sự trả lại ruộng đất các chùa bị chiếm hữu tại các xã và sự miễn thuế thân cho tu sĩ Phật giáo”.[6]

· Ba là, theo Nguyễn Lang là vì có những người chỉ muốn “chấn hưng Phật giáo là vì Phật giáo chứ không phải vì nhân sinh” như tác giả Ngộ Không đã lên án trong bài viết về Phật giáo và xã hội trong tạp chí Pháp Âm.[7]

Tất nhiên lúc đầu khi thành lập Hội Lục hòa Liên hiệp, các biểu hiện trên chưa thật rõ nét. Khi Hòa thượng Thích Khánh Hòa và các cộng sự tiến hành các hoạt động, các nhân tố và khuynh hướng trên ngày càng lớn dần và chi phối sâu sắc đã cố gắng dung hòa hoặc thỏa hiệp. Điều này càng làm cho chất lượng cuộc chấn hưng Phật giáo không được như kỳ vọng của những người sáng lập phong trào. Điều này khiến các nhà chấn hung Phật giáo đương thời đã có phương hướng thay đổi và hình thành Giáo hội Lục hòa Liên xã.

 

[1] Viện Nghiên cứu Phật học Việt nam và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tp HCM, Phật giáo vùng Mê Kong, ý thức môi trường và toàn cầu hóa, (Kỷ yếu hội thảo), NXB. ĐHQG tp HCM, 2015, trang 110.

[2] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, NXB văn học, Hà Nội, 1979, trang 557

[3] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, NXB văn học, Hà Nội, 1979, trang 559

[4] Pháp Âm số 7 (tháng 7.1937). Dẫn theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, trang 574.

[5] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, trang 575.

[6] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, trang 581.

[7] Pháp Âm số 5, tháng 5 năm 1957, dẫn theo Nguyễn Lang, tài liệu đã dẫn tập 3, tr. 575.

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 325
Pháp Âm: 1700
Đang truy cập
Hôm qua: 113
Tổng truy cập: 521962
Số người đang online: 31