tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP
Giáo hội Lục Hòa Liên Xã

Vai trò hoạt động của Hội Lục hòa Liên hiệp chưa đáp ứng được kỳ vọng về lòng yêu nước và tự hào dân tộc, truyền thống bất khuất quật cường của tổ tiên, nhất là truyền thống luôn đồng hành cùng dân tộc trong dựng nước và giữ nước của Phật giáo Việt Nam vốn hình thành ngay từ thời Lý, Trần. Đó là điều kiện cho Hội Lục hòa Liên xã ra đời.

Năm 1923, Hội Lục hòa Liên xã mở rộng khắp Nam Kỳ, Hòa thượng Thích Từ Văn – Chơn Thanh chùa Hội Khánh (Thủ Dầu Một) là một trong những người tiêu biểu nhất ở miền Đông Nam bộ, với hoạt động của Hội Danh dự yêu nước cùng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và các nhân sĩ, trí thức khác ở địa phương chủ trì.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc thường xuyên lui tới, cư ngụ các cảnh chùa, gặp gỡ, tiếp xúc gần gũi chư tôn hòa thượng đương thời. Có lẽ cụ Phó Bảng cũng có nhận thức về các hệ lụy trong tình hình nội bộ và hoạt động, nên đã viết các cặp câu đối khá thấm thía. Đó là cặp đối ở chùa Linh Sơn, nơi mà cụ thường lui tới để nghiên cứu Phật học:

“Phật pháp thị nhập thế nhi phi yếm thế

Từ bi nãi sát sanh dĩ độ chúng sanh”

Tạm dịch:

(Đạo Phật là nhập thế chớ chẳng phải xa lánh

Từ bi có lúc sát để cứu độ chúng sanh.)

Nhân lễ khánh thành chùa Kim Tiên năm 1922 (Cai Lậy) cụ Sắc viết câu đối để tặng:

“Đại đạo quảng khai thố giác khiêu đàm để nguyệt.

Thiền môn giáo dưỡng quy mao thằng thụ đầu phong”

Tạm dịch:

“Mở rộng đạo lớn như sừng thỏ mò trăng đáy nước

Nuôi dưỡng mái chùa như lông rùa cột gió đầu cây”

Biết được Hòa thượng Lê Khánh Hòa đang ôm ấp hoài bão thiết tha vận động chấn hưng Phật giáo và cảm kích câu trả lời đến một vị Hòa thượng về việc có mấy người đồng tình đồng tâm hưởng ứng và tại sao nhiều chùa giàu có không đứng ra chung lo với Ngài? Ngài từ tốn đáp rằng: Ở đời, vàng bạc bao giờ cũng ít, ngói đá lúc nào cũng nhiều. Chúng ta dù ít nhưng cố gắng sẽ thành công. Khó gì bằng lìa bỏ tình yêu cha mẹ vợ con và đời sống cao sang quyền quý, vùi thân trong núi tuyết rừng già mà đức Bổn Sư ta còn bỏ được và làm được thay! Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc mến mộ, và cũng từng tá túc ở chùa Tiên Linh, Bến Tre trong khoảng thời gian từ năm 1920 đến 1928.

Cụ Phó bảng cùng Hòa thượng Lê Khánh Hòa - Như Trí bàn việc dân, việc nước.  Cụ đã tặng câu đối liễn cho Hòa thượng:

Khánh chúc nhân dân kỳ Tổ quốc giang sơn bất lão

Hòa bình thế giới nguyện Phật gia pháp hải trường xuân

Trong thời gian lưu trú tại chùa, cụ Phó bảng mở lớp dạy học, xem mạch bốc thuốc cho nhân dân trong vùng và cụ cũng tặng câu đối khác:

 Như thị Như lai xuất thế khai thông hướng dẫn mê đồ quy Phật pháp

Trí vi trí giả hiện thân thuyết pháp hô hào trí thức thượng thiền tâm

Ở đây, cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng dạy Nho học cho đệ tử Hòa thượng Lê Khánh Hòa - Như Trí như Hòa thượng Thích Thái không, Hòa thượng Thích Thành Đạo, Hòa thượng Thích Thành Nghiêm, Hòa thượng Thích Thành Lệ, Giảng sư Thích Huệ Chí … và cụ còn gặp gỡ các ông: Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát, và trong số họ sau này có người trở thành lớp đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre.

Năm 1924, Hội Lục hòa Liên xã chính thức được thành lập lần 2 nhân dịp Chúc thọ giới đàn ở chùa Giác Viên, Gia Định, với vai trò trụ cột của Hòa thượng Từ Văn, được xem như là vị “Sư Cả” của chư tôn thiền đức Nam kỳ. Sự ra đời của Lục Hòa Liên Xã đáp ứng nhu cầu thôi thúc về một tổ chức Phật giáo hoạt động gắn với thực tế đất nước và cuộc sống chúng sinh. Trong đó việc quan trọng là vừa chấn hưng Phật giáo vừa tích cực giáo dục, tuyên truyền về lòng yêu nước cả trong Tăng Ni và dân chúng; xem việc truyền bá lòng yêu nước trong Tăng Ni, Phật tử cũng chính là chấn hưng Phật giáo.[1]

Năm 1930-1931, phong trào chấn hưng Phật giáo lại được tiếp nhận luồng sinh khí mới là phong trào cách mạng vô sản. Bởi các mối quan hệ quyền lợi tín ngưỡng, sưu cao thuế nặng, ruộng đất nhà chùa bị thực dân Pháp và thân Pháp chiếm đoạt, nên nhiều chùa đứng về phía cách mạng. Ra sức ủng hộ giúp đỡ nuôi chứa cán bộ, lấy chùa làm trường học, lấy chùa làm cơ quan như: Chùa Linh Thứu ở Xoài Hột, Thạnh Phú, Mỹ Tho. Thủ tọa điển Hòa thượng Thích Hoằng Không để chùa làm cơ quan ấn loát của tỉnh Ủy Mỹ Tho và bản thân ngài còn giao liên cho xứ ủy, Sư Thiện Chiếu về đây hội họp với chư Tăng các tỉnh. Hòa thượng Thích Trí Thiền đưa chùa Tam Bảo, Rạch Giá làm nơi sản xuất vũ khí đánh địch, Hòa thượng Thích Huệ Tâm – Trung Nghĩa huy động biểu tình năm 1930 ở Sa Đéc. Hòa thượng Thích Pháp Linh tham dự cuộc biểu tình chống sưu thuế tại chợ Hóc Môn, Hòa thượng Thích Đạt Thanh - Long Quang (chùa Giác Ngộ) tham gia cuộc biểu tình tại chợ Bà Điểm, Hòa thượng Thích Thiện Tòng (chùa Trường Thạnh), ngoài việc ủng hộ phong trào chấn hưng Phật giáo, ngài còn nuôi chứa các cán bộ cách mạng như ông Trần Văn Di, bà ba Kim Chi, Phạm Thị Cơ, Thái Văn Đầu…

Phong trào chấn hưng Phật giáo Nam Kỳ làm ảnh hưởng đến Phật giáo miền Trung và miền Bắc. Do đó, cụ Lê Đình Thám đứng ra thành lập Hội Phật học ở Bắc Kỳ vào năm 1932, và cụ Nguyễn Năng Quốc thành lập Hội Phật giáo Trung kỳ vào năm 1934.

Sau các cuộc biểu tình, đánh đồn Pháp giành chính quyền ở Nghệ Tĩnh bị thất bại, thực dân Pháp đàn áp rất dã man đối với nhân dân vô tội. Thực dân Pháp tại Sài Gòn lấy cớ khủng bố phong trào cách mạng của công nhân, nông dân, học sinh, Tăng chúng Phật giáo, và truy bắt như: Hòa thượng Thích Huệ Tâm bị bắt dày Côn Đảo lần thứ hai, Chùa Linh Thứu ở Xoài Hột, Thạnh Phú, Mỹ Tho bị bao vây, chúng truy bắt Thủ tọa điển Hòa thượng Thích Hoằng Không. Chùa Linh Sơn ở Cầu Muối trụ sở của Hội Phật học Nam Kỳ bị cha con Trần Nguyên Chấn chiếm đoạt.

Trước tình hình khủng bố trắng của Pháp, được sự chỉ đạo các tổ chức quần chúng và tôn giáo cần phải phân tán và chuyển vùng hoạt động để bảo tồn tổ chức. Chấp hành chỉ đạo này, Hòa thượng Thích Khánh Hòa về Trà Vinh mở Hội nghị chư sơn vận động thành lập Liên đoàn Phật học xã, mục đích nhằm đào tạo Tăng tài. Hưởng ứng chủ trương, chùa Thiên Phước ở Trà Ôn của Hòa thượng Thích Chánh Tâm nhận mở lớp đầu tiên, tiếp theo khóa hai được mở ở chùa Long Hòa của Hòa thượng Thích Huệ Quang ở Tiểu Cần, Trà Vinh; khóa thứ ba mở tại chùa Viên Giác của Hòa thượng Thích Tâm Quang ở Bến Tre. Qua ba khóa đã đạo tào một số chư Tăng tỏa ra gầy dựng một số cơ sở Phật giáo ở các tỉnh Nam Kỳ. Nhưng bị Commis Trần Nguyên Chấn mật báo với nhà cầm quyền Pháp rằng Ngài Khánh Hòa mở trường Phật học ở Tỉnh với mục đích tuyên truyền Cộng Sản. Nên Pháp bắt Hòa thượng Thích Khánh Hòa mang theo toàn bộ kinh luật lên sở mật thám Sài Gòn giải trình từng câu từng chữ cho cò mật thám. Nghe xong Pháp thấy không có lý do nào buộc tội nên phải thả Hòa thượng về.

Sau khi giao chùa Linh Sơn cho Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học và nhường quyền trụ trì cho Hòa thượng Thích Khánh Hòa, sư Thiện Chiếu sang trụ trì chùa Hưng Long ở ngã sáu Chợ Lớn. Tại đây sư viết sách, xuất bản báo để cổ vũ phong trào chấn hưng Phật giáo nhằm giáo dục tăng và tín đồ Phật tử giữ vững lòng tin để tranh thủ dư luận, hướng dẫn đấu tranh, bí mật bám sát và theo dõi chỉ đạo phong trào. Đồng thời, sư Thiện Chiếu phối hợp với Hòa thượng Thích Trí Thiền (chùa Tam Bảo Rạch Giá) và Hòa thượng Thích Pháp Linh (chùa Thanh Sơn, Hóc Môn), Hòa thượng Thích Đạt Thanh (chùa Giác Ngộ) thành lập Hội Kiêm tế Phật học xuất bản báo Tiến Hóa để làm cơ quan ngôn luận và giáo dục tăng chúng.

Năm 1933, Hòa thượng Thích Khánh Hòa ra lời kêu gọi Tăng già Lục tỉnh hưởng ứng Hội nghị chỉnh lý để giới luật được nghiêm minh và thành lập Hội Tăng già. Mỗi tỉnh cử 5 đại biểu chính thức về dự Hội nghị để bầu Ban Chức sự Trung Ương, bầu Đức Giáo tông và Phó Giáo tông để lãnh  đạo tăng đồ 21 tỉnh. Được sự hưởng ứng của Tăng già 21 tỉnh về dự hội nghị và họp trù bị suy cử Hòa thượng Thích Từ Phong là Đức Giáo tông và Hòa thượng Thích Khánh Hòa làm Phó Giáo tông. Nhưng lại Mommis Chấn mật báo với Pháp rằng Hòa thượng Thích Khánh Hòa liên kết chư tăng 21 tỉnh làm loạn nên thực dân Pháp ra lênh cấm bỏ cuộc họp.

Đến năm 1934, Hòa thượng Thích Khánh Hòa qua Trà Vinh hiệp cùng Hòa thượng Thích Huệ Quang và các vị cư sĩ: Quan huyện Huỳnh Thái Cử, quan huyện Ngô Trung Tín cùng nhiều vị khác thành lập “ Hội Lưỡng xuyên Phật học”  và được Hòa thượng Nguyễn Văn Tỷ cúng cho Hội ngôi chùa Long Phước ở ấp Thanh Lệ, huyện Châu Thành Trà Vinh làm Hội sở. Hòa thượng Thích Khánh Hòa cùng các vị họp thảo ra điều lệ thành lập hội và được Thống đốc Nam Kỳ cấp phép ngày 1/3/1934. Trường Phật học gọi là Thích Học Đường do quan huyện Ngô Trung Tín hỷ cúng cho Hội. Thích Học Đường khai giảng ngày 10/4/1939, bên Tăng do Hòa thượng Thích Khánh Anh giảng, bên Ni di Thích Nữ Tịnh Minh dạy, lớp Ni sau nầy dời về chùa Vĩnh Bửu ở Thơm, Bến Tre.[2] Hội Lưỡng Xuyên Phật học có xuất bản tạp chí Duy Tâm, mỗi tháng ra một số, Hòa thượng Thích Huệ Quang làm chủ nhiệm, ông Trần Huỳnh làm chủ bút.

Trường Lưỡng Xuyên Phật học đạo tạo được một số Tăng tài cho Phật giáo Nam Kỳ như: Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Hòa thượng Thích Thiện Hòa và ba vị ở miền Trung vào học rồi ở luôn trong Nam là Hòa thượng Thích Hành Trụ, Hòa thượng Thích Quảng Liên, Hòa thượng Thích Huyền Quang.

Năm 1936-1941, phong trào chấn hưng Phật giáo có chiều hướng phát triển, Hội Lưỡng xuyên Phật học và Hội Kiêm tế Phật học nỗ lực hưởng ứng phong trào Đông Dương đại hội, kêu gọi Tăng Ni Phật tử ủng hộ Mặt trận Bình dân Nam Kỳ. Hội xúc tiến và mở rộng xây dựng lại các hệ thống tổ chức đoàn thể, Hội Gia giáo, thành lập Ban Hộ tự, Ban Hộ niệm để tập hợp đông đảo tín đồ Phật tử.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh cũng đã giành thắng lợi cả nước. Tại Sài Gòn, “Việt Nam Phật Giáo Tổng Hội” huy động lực lượng Tăng Ni, tín đồ Phật tử dưới sự lãnh đạo của quí Tôn đức như: Hòa thượng Thích Thiện Tòng (chùa Trường Thạnh), Hòa thượng Thích Hồng Từ (chùa Giác Viên), Hòa thượng Thích Hồng Hưng (chùa Giác Lâm), Hòa thượng Thích Thiện Nghiêm (chùa Sùng Đức), Yết Ma Thích Bửu Ý (chùa Long Thạnh) … tổ chức họp mít tinh tại chùa Trường Thạnh lúc 7 giờ 30 sáng ngày 25/8/1945 đọc diễn văn và hình thành đoàn diễu hành đến chợ Bến Thành, đến trụ sở Ủy ban Khởi Nghĩa trao kiến nghị, gương cao cờ đỏ sao vàng, căng băng “Việt Nam Phật Giáo Tổng Hội”, khẩu hiệu Bảo Đại phải thoái vị, Nguyễn Văn Sâm từ chức – Việt Nam độc lập muôn năm.

Thực dân Pháp còn tham vọng trở lại Việt nam lần thứ hai, nên ngày 23/9/1945 núp bóng quân đồng minh Anh nổ súng đánh chiếm Sài Gòn Gia Định, rồi mở rộng ra toàn Nam Bộ. Cuộc kháng chiến toàn dân chống Pháp bắt đầu.

Đáp ứng lời kêu gọi của ông Trần Văn Giàu Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam Bộ, chư Tôn đức trong Hội Lục hòa Liên xã phát động tất cả chư Tăng từ 22 tuổi đến 32 tuổi lên đường cứu nước:

Cởi áo cà sa mặc chiến bào

Quên mình vì nước sá chi bao

Mô Phật quyết không dung quốc tặc

Từ Bi há chẳng dạ anh hào.

                                            (Đệ nhất thiền gia Sư Thiện Chiếu)

Dang tay la hán bồng cây súng

Lột chuỗi bồ đề đỡ ngọn đao

Mõ sớm chuông chiều xin gát lại

Lời kinh tiếng kệ hẹn mai sau.

                            (Đệ nhị thiền gia Hòa thượng Thích Pháp Linh)

Cởi áo cà sa khoác chiến bào

Giả từ thiền viện lướt binh đao

Câu kinh tiếng kệ chờ khi khác

Cứu nước thương dân dễ đợi nào.

                           (Đệ tam thiền gia Hòa thượng Thích Thái Không)

Do trải qua 25 năm giáo dục của chư tôn đức Hội Lục hòa Liên xã, chư Tăng đã ý thức được trách nhiệm, khế lý khế cơ, có nhiều hoạt động tích cực, gieo trồng được những hạt giống ái quốc trong chư Tăng, chấn chỉnh thanh lọc và nâng cao phẩm chất, trình độ của đông đảo Tăng Ni, và Phật tử.

 

[1] Thích Huệ Thông, Lược sử giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, NXB Văn hóa văn nghệ tp. HCM, 2019, trang 97.

[2] Sau năm 1945, trường bị giặc Pháp đốt phá

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 325
Pháp Âm: 1700
Đang truy cập
Hôm qua: 113
Tổng truy cập: 521966
Số người đang online: 34