tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP
Giáo hội Lục Hòa Tăng Việt Nam

Đến tháng 2 năm 1952, các vị lãnh đạo và chư Tôn túc thuộc Phật giáo Cứu quốc Nam bộ trước đây, tiến hành thành lập Giáo Hội Lục hòa tăng Việt Nam tại chùa Long An, Nancy, Quận Nhì, Sài Gòn (nay là Quận Nhất, Tp. Hồ Chí Minh). Đại Hội thành lập Hội Lục hòa tăng Việt Nam với thành phần:

  1. Hội đồng Chứng minh

 

  • Hòa thượng Thích Đạt Thanh (chùa Giác Ngộ)
  • Hòa thượng Thích Hoằng Đức (chùa Bình Hòa)
  • Hòa thượng Thích Phước An (chùa Báo Quốc)

 

v Ban Chức sự Trung ương

 

  • Đại Tăng trưởng: Hòa thượng Thích Thiện Tòng (chùa Trường Thạnh)
  • Tăng giám: Hòa thượng Thích Pháp Nhạc (chùa Long An)
  • Phó Tăng giám: Hòa thượng Thích Thành Đạo (chùa Phật Ấn)
  • Tổng Thư ký: Giảng sư Thích Huệ Chí
  • Các Ủy viên đặc trách nội ngoại thành và các tỉnh.
  • Hoằng pháp: Hòa thượng Thích Huệ Thành (chùa Long Thiền)
  • Phó Hoằng pháp: Hòa thượng Thích Pháp Lan (chùa Khánh Hưng)
  • Thủ quỹ: đạo hữu Đoàn Trung Còn

 

Hòa thượng Thích Minh Nguyệt Giám đốc trường Phật học Lục Hòa và chủ nhiệm tờ báo Lục Hòa đặt tại chùa Giác Viên. Trụ sở của Giáo hội đặt tại chùa Trường Thạnh số 97, đường Bác sĩ Yersin, Quận Nhì, Sài Gòn.

Sau khi Giáo hội Lục hòa tăng Việt Nam được thành lập, trong khoảng thời gian này, phong trào đấu tranh của Phật giáo ở nội thành hoạt động mạnh, do yêu cầu kháng chiến, cũng nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn, Giáo hội Lục hòa tăng Việt Nam đã phát sinh ra hai tổ chức trực thuộc, hoạt động theo tôn chỉ định hướng của Giáo hội là Hội Lục hòa tăng và Hội Lục hòa Phật tử.

  1. Hội Lục hòa tăng suy cử:

 

  • Tăng trưởng: Hòa thượng Thành Đạo (Tổ đình Phật Ấn)
  • Tăng giam: Hòa thượng Thích Huệ Thành (Tổ đình Long Thiền)
  • Đệ nhất Phó Tăng giam: Hòa thượng Thích Thiện Hương (Tổ đình Hội Khánh)

Trụ sở đặt tại chùa Phật Ấn (Quận Nhì, nay là Quận I), sau dời về chùa Giác Lâm (Tân Bình).

  1. Hội Lục hòa Phật tử suy cử:

 

  • Chánh Hội trưởng: Hòa thượng Thích Minh Thành
  • Phó Hội trưởng: Hòa thượng Thích Thiện Hào
  • Tổng Thư ký: Thượng tọa Thích Minh Giác

Trụ sở Hội Lục hòa Phật tử, đặt tại chùa Long Vân (Bình Thạnh - Gia Định).

Đến năm 1957, Giáo hội Phật giáo Lục hòa tăng Việt Nam mới chính thức được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa công nhận, hợp thức hóa tại Quyết định số 93/BNV/NA/P5, Bộ Nội vụ ký ngày 1/10/1957 (do Hòa thượng Thích Thiện Tòng đại diện xin phép thành lập “Giáo hội Lục hòa tăng Việt Nam”). Hội có bản Điều lệ gồm 9 chương 44 điều;

Ban chức sự lâm thời lúc bấy giờ gồm có:

  • Đại Tăng trưởng: Hòa thượng Thiện Tòng (chùa Trường Thạnh)
  • Tăng giam: Hòa thượng Thành Đạo (chùa Phật Ấn)
  • Phó Tăng giam: Hòa thượng Minh Đức (chùa Thiên Tôn)

Sau khi được thành lập, Giáo hội Phật giáo Lục hòa tăng đã phát huy vai trò của một tổ chức Phật giáo yêu nước, góp phần đẩy mạnh phong trào đấu tranh của Phật giáo ở nội thành ngày càng lớn mạnh.

Lúc bấy giờ có chủ trương chuyển hướng cán bộ về thành phố phân bố cho các đoàn thể và Phật giáo để hoạt động công khai như ở Mỹ Tho đưa Hòa thượng Thích Thiện Hào làm Tăng trưởng và Thượng tọa Thích Trí Long về chùa Vĩnh Tràng là Phó Tăng trưởng; đưa Lý Duy Kim tức Hòa thượng Thích Minh Nguyệt và Lê Văn Đổng, Lê Hoàng Minh, Thanh Đạm về Sài Gòn; kỳ bộ Việt Minh đưa Hòa thượng Thích Huệ Thành về Biên Hòa làm Tăng trưởng Tỉnh Hội Lục hòa tăng Việt Nam. Tình hình đấu tranh quân sự và chính trị trong nước giành được nhiều thắng lợi, Giáo hội Lục hòa tăng Việt Nam nhân đó lãnh đạo chư Tăng và chúng Phật tử đấu tranh chính trị để kềm chân địch ở miền Nam, hỗ trợ Điện Biên Phủ đánh địch, góp phần để chính phủ Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập.

Hiệp định Genever ký chưa ráo mực, lúc này, được Mỹ hậu thuẫn, Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền Sài Gòn đầu độc người dân chống lại hiệp thương. ra sức phá hoại cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Năm 1956, Giáo hội Lục hòa tăng Việt Nam gửi văn bản yêu cầu Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) thi hành hiệp định Genève tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước, không lấy sông Bến Hải vĩ tuyến 17, chia cắt hai miền Nam Bắc.

Năm 1957, việc yêu cầu chẳng những không thành, mà chế độ Ngô Đình Diệm còn hòng bóp chết hoạt động và bắt bớ những nhà yêu nước. Chúng thường theo dõi, bắt Hòa thượng Thích Pháp Nhạc - Tăng giám Trung ương Giáo hội Lục hòa tăng (trụ trì chùa Long An, Nancy, quận Nhì, nay là quận Nhất) tra tấn đến gãy xương sống. Ngày 06-09-1957 chúng thả về chùa đến ngày 11-09-1957 Hòa thượng mất. Hòa thượng Thích Thiện Nghị Tăng trưởng Đô Thành (trụ trì chùa Đức Lâm), Thượng tọa Thích Tín Lâm, Thượng tọa Thích Tín Hải, Cư sĩ Thiện Trí - Lê Hoàng Minh lần lượt bị bắt đày Côn Đảo.

Thời kỳ này, chính quyền Mỹ – Diệm thực thi đạo dụ số 10 nhằm cô lập hoạt động của Giáo Hội Lục hòa tăng Việt Nam, một tổ chức tập hợp những công dân yêu nước khoát áo nâu sòng. Nhiều vị lãnh đạo Giáo hội Lục hòa tăng bị bắt giữ, lưu đày, các vị chưa bị bắt thì phải sống trong cảnh thường xuyên bị theo dõi, khủng bố, trấn áp. Bên cạnh đó, một chính sách bắt bớ khủng bố trá hình cũng được chúng thực hiện, đó là đối với những tu sĩ thuộc tổ chức Hội Lục hòa tăng thì không được hoãn quân dịch, có nghĩa là toàn bộ tăng sĩ Hội Lục hòa tăng trong độ tuổi quân dịch đều bị bắt lính sung vào quân ngũ.

Năm 1960, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, nguyên Hội Trưởng Phật giáo cứu quốc Nam Bộ, là Đốc giáo Phật học đường Lục Hòa, sau cuộc họp tại chùa Thiên Tôn (Quận 5) chúng theo dõi đến ngã tư Phú Định thì bắt đày Côn Đảo; Hòa thượng Thích Thành Đạo - Tăng giám Trung ương Giáo hội Lục hòa tăng Việt Nam (trụ trì chùa Phật Ấn, Quận Nhì, nay là Quận I), Thượng tọa Thích Minh Gia, Thượng tọa Thích Minh Giác (chùa Long Vân), giảng sư Thích Huệ Chí (chùa Giác Viên)…bị bắt đưa về Khám Chí Hòa. Thượng tọa Thích Tín Tâm (Long An), Đại Đức Thích Bửu Định (Đồng Nai) cũng đồng bị bắt đày ra Côn Đảo. Còn Hòa thượng Thích Minh Đức - Phó Tăng giám Giáo hội Lục hòa tăng Việt Nam (trụ trì chùa Thiên Tôn), lánh nạn chùa Long Định (Tịnh Biên, Châu Đốc).

Các chùa bị khủng bố buộc phải hạ bảng, chỉ còn lại Hòa thượng Thích Huệ Thành (trụ trì Tổ đình Chùa Long Thiền, Biên Hòa), Hòa thượng Thích Bửu Ý (trụ trì Tổ Đình chùa Long Thạnh, Bà Hom, Bình Chánh) là những vị Trung ương Giáo hội.  Cũng năm này, Tòa Án Binh của Đệ nhất Cộng Hòa xử tại Biên Hòa kêu án Ngô Quang Thanh Bí thư Thủ Biên (Biên Hòa và Thủ Dầu Một) tù chung thân đày Côn Đảo. Thái Văn Kiếm tức Ba Kiếm (Đại Đức Thích Bửu Định) tù chung thân đày Côn Đảo (phòng 18, chuồng cọp số 1).

Vào ngày 20/12/1960, đại biểu các đoàn thể, tôn giáo, đảng phái và các dân tộc ở miền Nam Việt Nam, họp Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Hòa thượng Thích Thiện Hào lúc bấy giờ là đại diện của Giáo hội Lục hòa tăng và Hội Lục hòa Phật tử được Đại hội bầu làm Ủy viên Chủ tịch Đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đặc biệt, vào cuối năm 1960, Hòa thượng Thích Thiện Hào với tư cách là Ủy viên Chủ tịch đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Tổng Thư ký Giáo hội Phật giáo Lục hòa tăng - Hội trưởng Hội Lục Hòa Phật Tử, đã tuyên bố trên Đài Tiếng nói Bắc Kinh, ngài đã nhân danh đồng bào miền Nam Việt Nam và Phật giáo Việt Nam lên án chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đã đàn áp dã man các phong trào yêu nước của đồng bào và Phật giáo miền Nam, lên án các chính sách kỳ thị, thù địch Phật giáo của chính quyền Mỹ Diệm. Chương trình đưa ra 10 điểm với nội dung: Đánh đổ Đế quốc Mỹ, cùng ngụy quyền tay sai Ngô Đình Diệm để xây dựng miền Nam hòa bình, trung lập, dân chủ, phồn vinh, tiến đến hòa bình thống nhất đất nước.

Kể từ đây tổ chức Phật giáo Lục hòa tăng trở thành thù địch đối với chế độ Ngô Đình Diệm. Ngay sau đó, tất cả bảng hiệu của hệ phái Lục hòa tăng tại các cơ sở tự viện thuộc Hội Lục hòa tăng đều bị chính quyền Ngô Đình Diệm cho công an mật vụ tháo gỡ xuống vì chúng cho rằng Phật giáo Lục hòa tăng là cộng sản.

Năm 1961, khi chư vị lãnh đạo Hội Lục hòa tăng Việt Nam bị khủng bố, thì Hòa thượng Thích Trí Hưng (trụ trì chùa Thiền Lâm, Phú Lâm) kết hợp Võ Tử Hạ thân với chính quyền Ngô Đình Diệm mời chư sơn về chùa Giác Lâm (Q.Tân Bình) họp để tiến hành thành lập Giáo hội Cổ sơn môn (Chư đại biểu đi dự họp được phi cơ trực thăng đưa rước). Hòa thượng Thích Trí Hưng là Tăng Trưởng tỉnh Quảng Ngãi của Giáo Hội Lục hòa tăng Việt Nam. Do được cơ sở báo trước ý đồ của Hòa thượng Trí Hưng theo Chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa, nên Hòa thượng Thích Bửu Ý đương chức Tổng Thư Ký Giáo Hội Lục hòa tăng Việt Nam cố tình không đến dự, dẫn đến việc thành lập Giáo hội Cổ sơn môn lần này không thành.

Đứng trước tình hình chư sơn Hội Lục hòa bị chính quyền bố ráp, Hòa thượng Thích Bửu Ý sai đệ tử Sadi Huệ Xướng (là tôi) vào chiến khu báo cáo tình hình và xin chỉ thị (Hòa thượng dặn kỹ rằng đi tay không về cũng tay không chứ không được mang thư từ). Tôi được thầy Ký chùa Từ Ân (nay là Hòa thượng Thích Thiện Thanh, viện chủ chùa Từ Huê, quận Bình Tân, Tp. HCM) đưa lên chùa An Thạnh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh nhờ người chị ruột của Thầy đưa tôi đi qua biên giới Campuchia đến Sa Mác mới đến được chiến khu nằm ở xã Tân Lập, quận Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Hòa thượng Thích Thiện Hào yêu cầu chư sơn nhẫn nại và thay đổi hình thức hoạt động “tùy duyên bất biến”.

         Ngày 15 tháng 10 năm 1961, tại trụ sở của Hội Lục hòa Phật tử chùa Long Vân tổ chức cuộc họp khoáng đại, gồm có:

  1. Phái đoàn miền Nam:

 

  • Hòa thượng Thích Huệ Thành, Tăng giám Trung ương Giáo hội Lục hòa tăng Việt Nam (chùa Long Thiền, Biên Hòa);
  • Hòa thượng Thích Bửu Ý, Tổng Thư ký của Giáo hội (chùa Long Thạnh, Bà Hom);
  • Hòa thượng Thích Minh Đức, Phó Tăng giám (chùa Thiên Tôn, Chợ Lớn);
  • Hòa thượng Thích Minh Thành, Phó Tăng giám Trung ương kiêm Hội Trưởng Hội Lục hòa Phật tử Việt Nam.

 

  1. Phái đoàn miền Trung:

 

  • Hòa thượng Thích Bích Phong (chùa Quy Thiện, Huế).
  • Hòa thượng Thích Huệ Pháp (chùa Minh Tịnh, Quy Nhơn, Bình Định).
  • Hòa thượng Thích Bích Lâm (chùa Nghĩa Phương, Nha Trang, Khánh Hòa).
  • Hòa thượng ThíchTrí Thắng (chùa Thiền Hưng, Phan Rang, Ninh Thuận).
  • Hòa thượng Thích Vĩnh Thọ (chùa Linh Sơn Trường Thọ, Phan Thiết, Bình Thuận).
  • Đại Đức Thích Trí Tâm (chùa Nghĩa Phương, Nha Trang, Khánh Hòa).

         Cuộc họp này đã đi đến sự nhất trí thực hiện lời Phật dạy: “Tăng Dĩ Lục Hòa, đoàn kết Nam Trung và Trung ương Giáo hội Ủy Nhiệm”.

         Hòa thượng Thích Bích Lâm và Đại Đức Thích Trí Tâm lãnh nhiệm vụ đặc biệt thay mặt Giáo hội Lục hòa tăng Việt Nam, đi trực tiếp với chư sơn thiền đức các tỉnh Trung Nguyên và Cao nguyên Trung phần quy ngưỡng vào hệ thống giáo hội, do quý Hòa thượng Tăng giám Thích Huệ Thành và Hòa thượng Tổng Thư ký Thích Bửu Ý Lãnh đạo.

         Thừa hành ủy nhiệm của Trung ương Giáo hội, Hòa thượng Thích Bích Lâm cùng các đệ tử chân thành đã thành lập các tỉnh Hội Phật Giáo Lục hòa tăng miền Trung như: Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Bình Thuận, Pleiku, Kon Tum, …

         Sự cảm thông sâu sắc của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Hội Chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam (ngày 04 tháng 01 năm 1964, Đại Hội của 11 giáo phái tại chùa Xá Lợi suy tôn Hòa thượng lên làm Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất) đối với Giáo hội Lục hòa tăng bị chế độ Ngô Đình Diệm khủng bố, khi vào văn phòng thường trực chùa Xá Lợi, số 89 đường Bà huyện Thanh Quan có gửi cho Hòa thượng Thích Huệ Thành bức thư (hiện nay tôi còn giữ):

Sài Gòn, ngày 5 tháng 7 năm 1963

Hòa thượng Thích Tịnh Khiết

Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo V.N

Kính Gởi

Hòa thượng Thích Huệ Thành

Tăng-Giám Giáo-Hội Lục-Hòa-Tăng

Chùa Long-Thiền Biên-Hòa

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

         Bạch Hòa thượng!

         Từ lâu tôi có ý nguyện thăm viếng chư Hòa-thượng và chiêm bái các Tổ đình miền Nam, nhưng thế nào trên hai mươi hôm rồi tôi chưa đi đâu cả, vì phần tuổi già sức yếu, phần khổ bệnh đeo mang.

         Tuy nhiên, dầu nằm một chỗ, tôi rất thấu hiểu thái độ cao quý và nỗi khổ tâm của Hòa thượng, vì vậy tôi lấy làm thâm cảm và hết sức tán thán “đơn tâm vị Pháp” của Hòa thượng.

         Nhân bệnh tình tôi có phần thuyên giảm, tôi vội vã viết thư này kính thỉnh Hòa thượng thừa nhàn quang lâm chùa Xá Lợi để huynh đệ chúng ta cùng đàm Phật-sự cho phỉ tình hoài vọng của tôi.

         Kính chúc Hòa thượng pháp thể Khinh an.

         Bức thư này của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết mang ý nghĩa vô cùng đặt biệt. Bởi lẽ, khi thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam năm 1951 tại chùa Từ Đàm Huế là giai đoạn thống nhất Tăng Già toàn quốc đầu tiên. Khi đó, có ba vị Hòa thượng là bậc thượng thủ (tương đương như là đức Pháp Chủ):

  • Hòa thượng Thích Đạt Thanh thượng thủ Nam Kỳ, năm đó Hòa thượng đã 81 tuổi là Tôn sư của Hòa thượng Thích Huệ Thành).
  • Hòa thượng Thích Tịnh Khiết là thượng thủ Trung Kỳ.
  • Hòa thượng Thích Mật Ứng là thượng thủ Bắc Kỳ.

Cương vị là bậc thượng thủ, là một bậc thầy, thế nhưng, Hòa thượng Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam tán dương và thán phục một học trò là Hòa thượng Thích Huệ Thành Tăng Giám Trung ương của Giáo Hội Lục hòa tăng Việt Nam là vì sao? Điều này cho thấy điểm nổi bật khác thường về lòng son vì đạo, về vì sĩ khí yêu nước của một bậc chân tu.

Năm 1963, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân thành phố Sài Gòn, Gia Định nổi lên mạnh mẽ, mà nổi nhất là phong trào đấu tranh của giới Phật giáo, trong những cuộc xuống đường biểu tình của Tăng Ni và tín đồ Phật giáo được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia. Đến ngày 21/5/1963, hơn 600 nhà sư xuống đường tuần hành từ chùa Ấn Quang đến chùa Xá Lợi để phản đối Mỹ - Diệm đàn áp Phật giáo. Đỉnh điểm vào ngày 11/6/1963 tại ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, trước hàng vạn tín đồ Phật tử và chư Tăng Ni niệm kinh cầu nguyện, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu chống lại Đế quốc Mỹ và chế độc độc tài của gia đình Ngô Đình Diệm, đòi tự do tín ngưỡng, đòi tự do tôn giáo. Ngày 30/6/1963, trên 1000 Tăng Ni tuyệt thực để cầu nguyện cho đạo pháp thoát khỏi đại nạn.

Nhân Hội nghị Phật giáo Châu Á tổ chức tại Bắc Kinh Trung Quốc có 11 nước và khu vực tham dự, Hòa thượng Thích Thiện Hào được Mặt Trận Dân tôc Giải Phóng miền Nam công cử làm trưởng đoàn, đã vạch trần âm mưu thủ đoạn và tội ác của Đế quốc Mỹ - Ngô Đình Diệm tiêu diệt Phật giáo miền Nam, đập phá chùa am tự viện, khủng bố, bắt bớ tù đày Tăng Ni Phật tử một cách dã man. Chúng đã bắt giam 6000 tín đồ Phật tử, liên tiếp bắt bớ tù đày các nhà sư yêu nước như Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thành Đạo… còn giết hơn 200 nhà sư. Hội nghị vô cùng phẫn nộ, đồng ký kiến nghị gửi Hội đồng Liên hiệp quốc yêu cầu khẩn cấp gửi một phái đoàn sang miền Nam Việt Nam điều tra về kỳ thị tôn giáo, đàn áp tàn sát Phật giáo của chính phủ Sài Gòn. Hội nghị ra lời kêu gọi các nước yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam

Phong trào đấu tranh của giới Phật giáo nhanh chóng lan ra khắp thế giới khi có thêm 50 vị Tăng Ni khác tiếp tục tự thiêu thắp lên ngọn đuốc từ bi làm chấn động dư luận thế giới, dấy lên phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, thúc giục Liên hiệp quốc phải họp khẩn cấp và cử ngay phái đoàn sang miền nam Việt Nam.

Lúc bấy giờ phong trào Phật giáo Sài Gòn rất mạnh làm cho Đế quốc Mỹ lo sợ, một mặt tranh thủ mua chuộc làm phân hóa nội bộ suy yếu; mặt khác cho phép thành lập Tổng Giáo hội Phật giáo Việt Nam thân Mỹ được thành lập. Do yêu cầu gấp rút ra đời vì mục đích chính trị và nhất là được sự hậu thuẫn của chế độ Ngô Đình Diệm, sư Trí Hưng đã bất chấp mọi việc, đơn phương tổ chức thành lập Giáo hội Cổ sơn môn và được chính quyền Ngô Đình Diệm công nhận tổ chức này tại Nghị Định số177/B-BNV/KS ngày 9/4/1963,[1] văn phòng Giáo hội Cổ sơn môn đặt tại chùa Phụng Sơn gần bùng binh Cây Gõ (quận 11, Chợ Lớn). Sau khi ra đời do không nhận được sự đồng tình ủng hộ của tăng ni phật tử, nên tổ chức này tồn tại không được bao lâu sau đó.[2]

 

[1] Theo nguồn tư liệu được lưu trữ tại Tổ đình Hội Khánh (Bình Dương): “...Trong giai đoạn chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, nhằm thực thi một tổ chức tôn giáo làm hậu thuẫn cho mình, chính quyền nhà Ngô đã dựng lên một tổ chức Phật giáo lấy danh hiệu là Cổ Sơn Môn. Đây là một tổ chức hình thành có dụng ý làm cơ sở hậu thuẫn cho chính quyền chống lại các phong trào đấu tranh của Tăng Ni Phật tử đang đứng về chánh nghĩa, nhất là chống lại Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo. Bên cạnh đó, trong bản tường trình của Đô trưởng kiêm Tổng giám đốc Cảnh sát Sài Gòn gởi Tổng trưởng Bộ An Ninh Sài Gòn đề ngày 2/1/1964 đã ghi nguyên văn như sau: “Khoảng tháng 5/1963, Nguyễn Văn Y (nguyên Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia) có giao cho Võ Từ Hạ và Lưu Văn Nhung vận động quy tụ nhóm Lục Hòa Tăng cũ thành lập Tăng hội Phật giáo Cổ sơn môn (một tên gọi khác của tổ chức này là Tổng hội Phật giáo Cổ sơn môn – Nam Việt) làm hậu thuẫn ủng hộ Diệm - Nhu chống lại Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo. Tổ chức với tên gọi Cổ sơn môn đã đánh lừa một số Tăng Ni”...

 

[2] Giáo hội Cổ sơn môn do chính quyền Ngô Đình Diệm lập nên khác với Hội Sơn môn (Hội Cổ sơn môn) của Tổ đình Hồng Phúc (chùa Hòe Nhai) lập nên để góp phần chấn hưng Phật giáo trên khắp cả ba miền. Cổ Sơn Môn là tên gọi thể hiện sự tôn kính của Phật tử và lưu giữ truyền thống danh xưng trong sinh hoạt giáo hội của các bậc tiền bối tăng già hệ phái Lục Hòa Tăng Việt Nam. Trong bản Điều lệ của Giáo Hội Lục hòa tăng Việt Nam được tuyên cáo vào năm 1952 có mở ngoặc là Cổ sơn môn. Khi Tổng hội Cổ sơn môn của sư Trí Hưng thành lập do chính quyền Ngô Đình Diệm dựng lên thì chư tôn đức giáo phẩm và toàn bộ chư Tăng, Ni, Phật tử trong hệ phái Lục Hòa Tăng không còn dùng đến danh xưng này nữa.

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 325
Pháp Âm: 1700
Đang truy cập
Hôm qua: 113
Tổng truy cập: 521960
Số người đang online: 27