tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP
Phụ lục: Sự khác nhau về bản chất Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam và Giáo hội Cổ Sơn môn

 

I. BẢN CHẤT CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Tôn chỉ xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển của Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam là “hộ quốc an dân”. Đây không phải khẩu hiệu hô hào khuếch trương thanh thế, mà là sự khẳng định tính tất yếu lịch sử của tổ chức Phật giáo yêu nước được hình thành từ những Tăng, Ni, Phật Tử yêu nước.

Thực tế cho thấy, số lượng chư Tăng, Phật tử bị giam cầm, đánh đập, tù đày, sát hại thuộc hệ phái Lục hòa tăng và Hội Lục Hòa Phật Tử là không sao kể xiết. Nhiều chùa chiền, am cốc, tự viện bị tàn phá san bằng chiếm phần đa số so với các hệ phái Phật giáo khác. Từ năm 1955, khi cơ cấu tổ chức của Hội Lục hòa tăng và Hội Lục hòa phật tử vừa được hình thành đã bị chế độ Mỹ - Diệm theo dõi, đánh phá; một số người đã bị bắt, trong đó có cư sĩ Lê Hoàng Minh (thời gian sau đó là phát ngôn viên của Giáo hội).

Năm 1958, Giáo hội mở lớp quy tụ chúng an cư tu học tại khuôn viên chùa Giác Viên, chính quyền chế độ độc tài Mỹ - Diệm tiếp tục khủng bố, bắt bớ; có người hy sinh, có người bị bắt lưu đày ra Côn Đảo, trong số đó có yết ma Thích Thiện Nghi, trụ trì chùa Đức Lâm (Phú Thọ Hòa - Tân Bình) và Hòa thượng chùa Long An.

Năm 1960, Hòa thượng Thích Thành Đạo (chùa Phật Ấn), Hội trưởng Hội Lục hòa tăng cùng với hai thư ký tòa soạn Tạp chí Phật học, giảng sư Huệ Chí, Hòa thượng Minh Giác và Hòa thượng Minh Nguyệt bị chính quyền Mỹ Diệm một lần nữa vây bắt và đày ra Côn Đảo. Lúc bấy giờ, tình hình sinh hoạt của Giáo hội Lục hòa tăng và Hội Lục hòa phật tử trở nên bất ổn, mù mịt, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Hội trưởng Hội Lục hòa phật tử nhân cơ hội chiến dịch Đồng Khởi năm 1960 đã lẫn tránh và bí mật vào vùng kháng chiến, trở thành Ủy viên Chủ tịch Đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau về làm cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Năm 1969 trở đi, những hoạt động đấu tranh của Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam ngày càng khẩn trương, sôi nổi, thể hiện vai trò tiên phong trong việc đóng góp thành quả vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Năm 1975, tham gia thành lập Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1975). Năm 1979, tham gia thành lập Ban Vận động thống nhất Phật giáo. Tiêu biểu là các vị tôn túc trong Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam, như: Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Hòa thượng Thích Huệ Thành, Hòa thượng Thích Bửu Ý... Cả hai tổ chức này đều có vị trí rất quan trọng và góp phần to lớn vào việc thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981.

Như vậy, bản chất của Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam là dấn thân, nhập thế, giúp đời, chống lại chính quyền tay sai, đánh đuổi, đế quốc thực hiện lý tưởng độc lập, tự do, hòa hợp dân tộc, thống nhất đất nước.

II. BẢN CHẤT CỦA GIÁO HỘI CỔ SƠN MÔN

Dưới sự điều động của vợ chồng Ngô Đình Nhu, tháng 5 năm 1963, Giáo hội Cổ sơn môn ra đời (Tổng hội Phật giáo Cổ Sơn Môn) để chống lại phong trào đấu tranh của phật tử yêu nước. Chúng dùng đoàn thể thương phế binh giả và thanh niên Cộng Hòa yêu cầu duyệt lại bản Thông cáo chung cũng như kế hoạch tiêu diệt Phật giáo đến tận gốc của Ngô Đình Nhu (Kế hoạch Nước Lũ - Kế hoạch đảo chánh giả). Được sự ủng hộ của sư Trí Hưng và sự hiến kế chiến thuật Nước lũ của Ủy ban Liên hiệp thuần túy Phật giáo. Vào lúc 00 giờ, ngày 21/8/1963, Diệm - Nhu ra lệnh tấn công các chùa trong thành phố, trong đó có chùa Ấn Quang, chùa Xá Lợi, chùa Giác Sanh, chùa Giác Minh... bắt hết chư Tăng Ni, đánh đập tàn nhẫn rồi đem giam ở Rạch Cát, phường Bình Đông, quận 7.

Để tiếp tục chính sách che mắt, đánh lừa quần chúng, hạ uy tín của Ủy ban Liên phái, chính quyền Ngô Đình Diệm bịa đặt cho rằng Ủy ban Liên phái không phải Phật giáo chân chính và thuần túy. Đồng thời, xúc tiến thành lập một ủy ban chân chính và thuần túy hơn do một nhóm người thực hiện, trong đó có sư Trí Hưng là lãnh đạo của Tổng hội Phật giáo Cổ sơn môn phụ trách. Tuy Ủy ban Liên hiệp bảo vệ Phật giáo thuần túy thành lập, nhưng hành vi của chính quyền và ủy ban này chỉ là trò hề đối với quần chúng[1].

Như vậy, Bản chất cốt lõi nhất của Giáo hội Cổ sơn môn là phục vụ cho chính quyền tay sai, đàn áp các phong trào Phật giáo yêu nước, chia rẽ dân tộc, đi lệch với tôn chỉ “hộ quốc an dân”.

Tóm lại, các tổ chức như Hội Phật giáo Thuyền Lữ và Hội Phật giáo Cổ Sơn Môn (sư Trí Hưng thành lập vào khoảng thời gian sau năm 1954), Giáo hội Phật giáo Cổ Sơn Môn (sư Trí Hưng thành lập năm 1961) và Tổng Hội Phật giáo Cổ Sơn Môn (do chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm dựng lên vào năm 1963, Sư Trí Hưng trực tiếp lãnh đạo) về bản chất thì tất cả các tổ chức này đều cùng chung mục đích chống phá lại các phong trào đấu tranh yêu nước chính nghĩa của Phật giáo, chia rẽ nội bộ Phật giáo, đi ngược lại công lý và ngụyện vọng vì hòa bình, độc lập tự do, thống nhất đất nước của toàn dân tộc.
 

[1] Theo Lê Cung, Phong trào Phật giáo Việt Nam 1963, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999.

 

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 325
Pháp Âm: 1700
Đang truy cập
Hôm qua: 113
Tổng truy cập: 521962
Số người đang online: 32