tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP

Đời sống chư Tăng thời đức Phật

Chủ nhật | 24/11/2019
Tăng đoàn thời Phật

dẪN NHẬP

Ấn Ðộ là một trong những vùng đất có nền văn minh cổ nhất của lịch sử loài người. Ðấy là nền văn minh ở thượng lưu sông Indus (sông Ấn), trải xuống cả thượng lưu sông Gange (sông Hằng). Trong một thời gian dài, ít ra là từ năm 4. 000 đến năm 1. 000 trước Tây lịch, nơi đây đã là nơi tập trung của những sắc dân định cư như Mundian, Samerian..., và đông nhất, nổi bật nhất là dân Dravidian. Có thể nói trung tâm và linh hồn của nền văn minh tương đối thuần chất và cổ nhất Ấn Ðộ đã tập trung ở vùng Punjab (Ngũ Hà), thượng lưu sông Indus đã nói trên. Ðây là một nền văn minh nông nghiệp, ở thời đại đồ đồng. Các khai quật khảo cổ học đã xác minh nơi đây có một thành phố lớn được xây dựng vào khoảng hai, ba nghìn năm trước Tây lịch.

Ðến thế kỷ XIII trước Tây lịch, một nhánh dân Aryan từ vùng Caucasia, giữa Lý Hải và Hắc Hải (thuộc Aménia, Liên bang Xô viết (cũ) giáp giới châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ), tràn xuống vượt qua rặng núi Hindu Kush mà vào Tây Bắc Ấn Ðộ, xuống vùng Punjab. Nơi đây họ gặp sức kháng cự mãnh liệt và khá bền bỉ của dân Dravidian. Nhưng người Aryan vốn là dân du mục, rất thiện chiến, đã đánh thắng sắc dân bản địa. Người Dravidian một phần chuyển xuống phía Nam và Ðông Nam, hoặc giữ thuần chủng hoặc hợp chủng cùng một số sắc dân khác, lập thành các nước nhỏ; một phần khác ở lại vùng Punjab, chung sống và chịu sự thống trị của dân Aryan.

Tư tưởng Brahman và có lẽ cả một số lớn lời thơ vốn có từ trước rất lâu, bấy giờ, khoảng 1200 năm đến 1000 năm trước Tây lịch đã được thể hiện, sắp xếp, sáng tạo thêm, thành những bài tán ca phong phú, đẹp đẽ. Trong khoảng hơn hai trăm năm, 1017 bài tán ca, sau bổ túc thêm 11 bài đã được sắp xếp hình thành; nói đúng hơn, một số đã hình thành từ trước đó rất lâu và một số đã được thêm thắt vào sau đó rất lâu. Các bộ Vedas khác như Samma Vedas (Sa ma Phệ đà), Yajur Vedas (Gia du Phệ đà) và Athar Vedas (A thát Phệ đà, sau này được kể là một Phệ đà) đã được hình thành sau đó có thể cả hàng thế kỷ. Các bộ này thiên trọng quá nhiều về sự cầu đảo tế lễ.

Tổ chức xã hội theo hệ thống Bà la môn, do Trí tuệ, do kỹ năng lãnh đạo, do quyền lực, đã ổn định đời sống, nâng cao sản xuất, tạo một bước tiến dài, một bước ngoặt mới trong lịch sử Ấn Ðộ. Nhưng khi quốc gia đã lớn mạnh, cơ sở hạ tầng đã phát triển cao thì cái kiến trúc thượng tầng đã có dấu hiệu không kham nổi vai trò của mình, khởi đầu làm trở ngại việc phát triển của quốc gia. Có thể nói, cái sinh khí của quốc gia bấy giờ hầu như đã suy giảm. Các tế lễ, nghi thức Tôn giáo, và sự lệ thuộc về tinh thần và về sinh hoạt hằng ngày của người dân vào Bà la môn giáo quá nhiều. Tất cả thành ra gò bó, đơn điệu, buồn tẻ. Ðã đến lúc các quốc gia muốn tiến hơn nữa, phải đón nhận một tư tưởng lãnh đạo khác, hoặc đã đến lúc Bà la môn giáo muốn tiếp tục đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, phải chuyển biến thành một hệ thống mới.

Hãy nói riêng Ấn Ðộ vào thời ấy, ngoài các vị thần đầy quyền năng được chấp nhận theo truyền thống tín ngưỡng, chưa có một con người thực sự, con người lịch sử, cao cả mà gần gũi với mọi người, con người giác ngộ chân lý có khả năng đặt lại vấn đề để giải quyết và từ đó giải quyết mọi rối rắm của tư tưởng bấy giờ. Vị ấy không phải là đấng sáng tạo, không độc quyền giữ chân lý, không mang lại cái gì mới lạ với thực tại, không đặt thêm tư tưởng, học thuyết. Vị ấy chỉ dung nạp, dung hóa, hòa hợp. Vị ấy bắt đầu bằng thực tại, thực hiện và thành tựu trong thực tại bằng một sự việc rất thực là cứu khổ, giải thoát cho con người.

Vị ấy là đức Phật. Ngài là một Thái tử, tên Siddhattha (Tất Đạt Đa), dòng họ Gotama (Cồ Đàm), Vương tộc Sakya (Thích Ca, thuộc đẳng cấp Shatiya (Sát đế lợi), con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và Hòang hậu Mayadevì (Ma Gia). Ngài sinh vào năm 544 trước Tây lịch, tại vườn Lumbini (Lâm tỳ ni), phía Ðông thành Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ), nước Kapilavatthu.

Kapilavatthu là một nước nhỏ, hiện nay là Tilaura Kot, thuộc Nepal, giáp giới với Ấn Ðộ. Chếch về Tây khoảng một trăm km là Sàvatthi (Xá Vệ) thuộc Kosala, nay là Sàhet Mahet ở hữu ngạn sông Rapti. Chếch xuống phía Ðông Nam Kapilavatthu chừng hai trăm km là thành Kusinagara (Câu Thi Na) thuộc Kasia (Ca Thi), ở phía Utta Pradesh hiện nay, cách hai trăm km về Ðông, hơi xuôi Nam là thành Vesali (Phệ Xá Ly) thuộc Vamsa (Vam Di), nay là Besàrh trên sông Gandaki. Vẫn xuôi về Ðông và chếch xuống Nam, băng qua sông Gange, cách Vesali chừng hai trăm km là thành Ràjagaha (Vương Xá), Kinh đô của Magadha (Ma Kiệt Đà), nay thuộc xứ Bihar. Phía Nam Ràjagaha vài chục cây số là Gaya, nay là Boddhigaya, nơi Phật thành đạo. Sát ngay đó, xuống phía Nam là vùng rừng núi, nơi đức Phật sáu năm tu khổ hạnh. Cách Gaya chừng ba trăm km về phía Tây, hơi chếch lên Bắc là Baranàsi (Ba La Nại), thành phố nằm ngay trên bờ tả ngạn sông Gange. Ngược dòng sông Gange chừng ba trăm km, đi về Nam vài chục km là Kosambi (Kiều Thướng Di) thuộc Vamsa, nay là Kosam, ở phía Tây Nam Allahàbàd.

Các khoảng cách nói trên là tính theo đường chim bay, chỉ là các con số tương đối; nếu kể theo đường bộ hiện nay, đặc biệt là vào thời ấy tất nhiên là phải khác hơn nhiều, con số thực có thể dài gấp đôi hay hơn nữa.

Ngài dấn thân tu tập năm 19 tuổi, cùng theo có năm đệ tử của Uddaka là Annà Kodannà (A nhã Kiều Trần Như), Assaji (Át bệ hay Mã Thắng hoặc Thuyết Thị), Dasabàla Kassapa (Thập Lực Ca Diếp) và Bhadaka (Bạt Đề), Bồ tát cùng năm vị Sa môn này xuôi về Nam, đến vùng Uruvelà (Ưu Lâu Tần Loa), gọi là Gaya, vượt thêm khoảng mười km đến một nơi rừng núi thâm sâu tịch mịch; sát đó, mé Tây là dòng Niranjara (Ni Liên Thuyền). Ngài và năm vị đồng hành chọn nơi đây để tu khổ hạnh.

Suốt sáu năm trời, Bồ tát chịu đựng đói khát, lạnh lẽo..., thân thể gầy mòn chỉ còn da bọc xương. Ngài nỗ lực tu tập Thiền định, tìm cách điều ngự thâm tâm, quyết tâm hành xác, điều động hơi thở, thậm chí còn cố gắng ngưng thở để mong giải thoát tâm linh. Mệt mỏi, đau đớn, cảm giác bất an vẫn không ngừng hiển hiện. Ngài nhớ lại những Kinh nghiệm trước kia, dù đang lúc trú sơ Thiền, Ngài đã rất thoải mái, thanh thản, nhẹ nhàng (cảm nhận lúc Ngài lên bảy, khi vua cha làm lễ hạ điền); thế mà nay thì trái ngược hẳn! Ngài nhận thấy mình đã đi không đúng đường, đã nghiêng hẳn về một cực đoan. Ngài quyết định ăn uống trở lại cho đầy đủ sức khỏe, bỏ hẳn việc tu hành xác. Năm vị Sa môn đồng tu, nhóm Tôn giả Kodannà, cho rằng Ngài đã thối chí, rời Ngài mà đi sang phía Tây đến Baranàsi cách đó chừng ba trăm km, thuộc xứ Kàsi, bên bờ sông Gange để tiếp tục tu tập.

Bồ tát bấy giờ chỉ còn một mình nơi rừng vắng, cô đơn nhưng thanh thản, quyết chắc mình sẽ thành đạo. Ngài xuống tắm ở sông Niranjaga rồi đi ngược lên phía Bắc để trở lại Gaya, Uruvelà nơi không xa đường cái, làng mạc, nhưng lại là một khu rừng xanh mát, yên tĩnh, Bồ tát dùng cháo sữa của thôn nữ Sujàta (Tu Xà Đề) dâng cúng, nhận tám bó cỏ mịn của người cắt cỏ tên Svastika (Kiết Tường) để trải làm chỗ ngồi, trên một phiến đá phẳng, dưới một cội cây già (sau này được gọi là cây Bodhi Bồ đề). Ngài thề sẽ không rời khỏi nơi đây khi chưa thành đạo. Trừ những lúc xuất Thiền tản bộ quanh quất nơi đây, trong suốt bảy tuần lễ Ngài nhập đại định và cuối cùng chứng đắc đạo quả tối thượng.

Từ nay đức Thích Ca đã trở thành bậc Giác ngộ vĩ đại nhất, xứng đáng với mười danh hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

Ðức Phật đã đạt chân lý tối thượng, đã trở thành chân lý. Chân lý vẫn thể hiện trong thực tại trần gian nhưng vì bị vô minh che lấp, con người không vào được chân lý, kiếp kiếp phải lang thang, quằn quại đau thương trong sinh tử luân hồi. Ðức Phật đã từ bỏ tất cả để tìm chân lý, há không phải để phá trừ vô minh, vượt sinh tử, diệt khổ đau đang hiện diện trong cuộc đời? Bởi thế, sau bảy ngày ngồi tịnh lặng dưới cội Bồ đề tận hưởng hạnh phúc an lạc của Ðại giác, đức Phật đắn đo suy nghĩ về pháp vô thượng và cái giới hạn của Trí tuệ con người, đã phân vân về việc đem Pháp để thuyết dạy người đời.

Tăng già, trên nguyên tắc là một cơ thể nhất thống, thể hiện đúng như Pháp, như Phật, là Pháp, là Phật.

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 301
Pháp Âm: 1344
Đang truy cập
Hôm qua: 54
Tổng truy cập: 469496
Số người đang online: 8