tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP

Tư tưởng Triết học Tôn giáo Ấn độ có trước và cùng thời với Đức Phật Thích-ca

Thứ 5 | 30/05/2019
Ấn-độ là một bán đảo lớn ở phía Nam Châu Á. Phía Đông-Nam giáp với Ấn-độ dương (Indian Ocean), phía Tây-Nam giáp với biển Á-rập ( Arabian Sea), phía Bắc giáp với rặng núi Himalaya hùng vĩ, quanh năm tuyết phủ.
                                                                                                                             GS Nguyễn Vĩnh Thượng

 

                   Phần I:  Dẫn nhập
                                  Bối cảnh xã hội và các nền văn hoá có trước khi Đức Phật Thích-ca ra đời.
                                  1.-Văn minh lưu vực song Indus (3.300 – 1300 tr. CN).
                                  2.-Văn hóa Veda.

                   Phần II: Tư tưởng triết học tôn giáo Ấn-độ có trước khi Đức Phật Thích-ca ra đời:
                                   Thời kỳ Veda.
                                    1.-Tư tưởng triết học và tôn giáo trong 4 Thánh Kinh Vedas.
                                    2.-Tư tưởng triết học trong Thánh Kinh Tế nghi thư Brahmana (khoảng 1000 tr. CN – 800 tr. CN).
                                    3.-Tư tưởng triết học trong kinh Upanishad (khoảng 800 tr. CN):
                                                    - Atman và Brahman.
                                                    - Karma và Samsara.

                   Phần III.-Tư tưởng triết học tôn giáo Ấn độ cùng thời với Đức Phật Thíc-ca (khoảng 654 tr. CN  - Khoảng 544 tr. CN):

                                        A.- Các hệ thống triết học, tôn giáo chính thống:
                                                     I.-Bà-la-môn giáo.
                                                     II.-Sáu phái triết học chính:

                                                                    1.- Trường phái Nyaya.
                                                                    2.-Trường phái Vaisesika.
                                                                    3.-Trường phái Samkhya.
                                                                    4.-Trường phái Yoga.
                                                                    5.-Trường phái Mimansa.
                                                                    6.-Trường phái Vedanta

                                          B.-Các hệ thống triết học, tôn giáo không chính thống:
                                                                       1.- Chủ nghĩa duy vật (Materialism) với Charvaka / Lokayata

                                                                              2.- Kỳ-na giáo (Jainism) với Mahavira.

                                                                              3.-Trường phái định mệnh   Ajivika với Makkhali Gosala

                                                                              4.- Trường phái hoài nghi (Skepticism). 

                                                                              5.- Phật giáo (Buddhism) với Đức Phật Thích-ca.

 

Phần I.- Dẩn nhập:

                         Bối cảnh xã hội và các nền văn hoá có trước khi Đức Phật Thích-ca ra đời. 

 

                                                                          (Bản đồ Ấn độ - nguồn: internet)
          

Ấn-độ là một bán đảo lớn ở phía Nam Châu Á. Phía Đông-Nam giáp với Ấn-độ dương (Indian Ocean), phía Tây-Nam giáp với biển Á-rập ( Arabian Sea), phía Bắc giáp với rặng núi Himalaya hùng vĩ, quanh năm tuyết phủ.

[ theo tiếng Sanscrit, hima = tuyết (snow), alaya = cư trú (dwelling), Himalaya có nghĩa là “nơi cư trú của tuyết]

Himalaya có đỉnh cao nhất hơn 8.000 mét, có bề dài trên 7.200 mét ,(ngọn núi Everest cao 8.848 mét). Đây là nơi ẩn dật, là chốn tu hành của nhiều đạo sĩ. Đã có nhiều chuyện thần thoại và nhiều truyền thuyết về các chuyện đã xảy ra trên ngọn núi này. Nội dung của các chuyện này đã ảnh hưởng đến tư tưởng triết học và văn học Ấn độ. Các nhà văn hoá Ấn độ cho rằng dãy núi Himalaya đã tạo nên những khuôn mẫu tư tưởng sâu đậm trong văn hoá của miền Nam Châu Á. Nhiều đỉnh núi của rặng Himalaya đã là những nơi linh thiêng của cả Phật giáo và Ấn đô giáo.( Himalayas have profoundly shaped the cultures of South Asia. Many Himalaya peaks are sacred in both Buddhism and Hinduism). Rặng núi Himalaya là ranh giới của Tiểu lục địa Ấn độ với cao nguyên Tây tạng. Từ trên ngọn núi Himalaya, có 3 con sông lớn của thế giới chảy vô nước Ấn độ , tạo nên những đồng bằng rộng lớn: Indus, Ganges và Brahmaputra.

Sông Indus (âm VH, Ấn hà) chảy qua miền Tây nước Ấn độ và đổ ra vịnh Oman. Sông này  có 4 phụ lưu chính là các sông: Ravi, Thelum, Chenar và Sutleji. 5 con sông này tạo nên đồng bằng Pendjab (âm VH, Ngũ Hà tức là vùng có 5 con sông). Lưu vực sông Indus đã sinh thành một nền văn minh đáng chú ý là “Văn minh lưu vực sông Indus”( Indus valley civilization) vào khoảng năm 3.000 năm tr. CN. 

Sông Gange (âm VH, Hằng hà) chảy qua miền giữa của nước Ấn độ và đổ ra vịnh Bengal. Sông Gange là một con sông linh thiêng nhất của Ấn độ ( Ganges river is the most sacred river to Hindus). Hằng năm, vào lễ hội tắm Kumbh Mela, có hàng triệu tín đồ đạo Ấn độ giáo đến tắm trong dòng sông Hằng vì họ tin tưởng rằng nước sông Hằng sẽ rửa sạch mọi tội lỗi mà họ đã làm, và làm trong sạch , làm thanh tịnh tâm hồn của họ. Các “câu chuyện của dòng sông Hằng” cũng đã ảnh hưởng đến tư tưởng và văn hoá Ấn độ.  

Sông Brahmaputra còn gọi là sông Tsangpo  Bramaputra, đây là con sông ngăn cách biên giới (trans-boundary river) xuyên suốt phía Đông-Bắc Ấn độ. Sông này chảy vô Ấn độ theo hướng Tây  Nam , rồi hạ lưu của nó sát nhập với sông Gange để cùng nhau chảy ra vịnh Bengal. 

Miền Nam Ấn độ là Cao nguyên Deccan rộng lớn có nhiều sông nhỏ chảy ra biển. 

Khí hậu của Ấn độ thì vô cùng ác nghiệt: miền Bắc ở dưới chân rặng Himalaya thì lạnh lẽo, khi có gió nóng từ miền Nam thổi lên thì thời tiết có nhiều đám sương mù dày đặc. Vào mùa hè, nhiệt độ gia tăng làm các băng tuyết trên Himalaya tan ra tạo thành những cơn nước chảy dữ dội xuống thành lụt lội có sức tàn phá kinh khủng, và đem phù sa phủ khắp làng mạc, thành phố như trường hợp ở lưu vực sông Indus.

Ấn độ có nhiều khu rừng rậm có đầy cọp, beo, voi, chó sói, rắn độc, có những đầm lầy có nhiều cá sấu.

Khí hậu ở miền Nam thì oi bức, sức nóng làm cơ thể suy nhược, con người mau già, làm ảnh hưởng đến tinh thầncủa con người và làm ảnh hưởng tới những quan niệm triết lý, tôn giáo của cư dân. Rừng cây soi bóng mát là nơi rấtthích hợp cho các đạo sĩ tu tập, ngồi thiền định. Vào mùa hè, mưa nhiều, nên khí hậu được mát mẻ hơn, nhà nông có thể trồng trọt. 

Khoảng trên 4 ngàn năm tr. CN, đã có nhiều dân tộc sinh sống ở Ấn độ với các phong tục, tập quán, ngôn ngữ và trình độ văn minh khác nhau. Giống người Dravidian là dân tộc nổi bật nhất trong các dân tộc đã sống ở Ấn độ khoảng trên 3.000 năm tr. CN, vào khoảng thời đại đồ đồng, họ sống theo chế độ mẫu hệ. Họ có nước da sậm, mũi to, mắt đen. Phần lớn họ sống về nghề nông, trồng lúa nước.

Dân tộc Dravidian và các cư dân khác đã có một nền văn minh cao, di tích khảo cổ ở lưu vực sông Indus đã chứng minh điều này. Trên vùng cao nguyên Deccan, dân bản địa còn lưu lại huyết thống, ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật của dân tộc Dravidian. 

Vào khoảng năm 2.500 tr. CN, giống người Aryan sống ở phía Bắc dãy núi Cause, (rặng núi Cause dài 1.200 km, nằm giữa biển Caspienne và Hắc hải), đã chia ra làm 2 toán: một toán di chuyển về phía Tây - Nam để đi vào xứ Iran, một toán khác di chuyển về hướng Đông-Nam để xâm nhập vào miền Tây - Bắc Ấn độ, rồi dần dần xâm chiếm cả bán đảoẤn độ: họ thống trị vùng lưu vực sông Gange, rồi xuống phía Nam đi lên Cao nguyên Deccan. Người Aryan có dóc dáng to lớn, da trắng hơn dân bản địa. Dân tộc Aryen có trình độ văn hoá kém hơn người Dravidian khi họ mới xâm chiếm Ấn độ. Về sau, dân tộc chiến thắng Aryan dựa vào sự học hỏi từ dân tộc Dravidian, họ đã phát triển về mọi mặt như tôn giáo, văn minh, kỷ thuật, cách quản lý hành chánh xã thôn. Họ đã tạo một bước tiến vượt bực về tư tưởngtriết học, tôn giáo như thời kỳ Veda và về sau này. Trong gia đình của dân tộc Aryan thì người cha làm chủ.  Phe thắng cuộc Aryan đã đặt ra 4 đẳng cấp trong xã hội Ấn độ, họ thuộc về 3 đẳng cấp trên còn phe thua trận Dravidian và các cư dân khác thì thuộc đẳng cấp thứ tư: nô lệ và các đẳng cấp ở ngoài 4 đẳng cấp này. 

                   1.     Văn minh lưu vực sông Indus (3.300 - 1.300 tr. CN): 

                               (Bản đồ khu vực di tích khảo cổ thuộc văn minh lưu vực sông Indus.   nguồn: internet )

Năm 1922, nhà khảo cổ học John Marhall đã cùng với các viên chức khảo cổ Ấn độ: R.D. Banerji, D.K Dikshita và Ernest Mackoy bắt đầu cuộc khai quật ở Mohenjo-daro, và sau đó ở Harappa. Mohenjo-daro là vùng khảo cổ nằm ở hữu ng