tin tuc ngay nay

CỬA VÀO PHẬT PHÁP

Kinh Nhân Quả Thiện Ác

Chủ nhật | 23/06/2019
Cúi đầu trước mười phương chư Phật Con nguyền chân thật kính tin Phát lời thệ nguyện độ sinh Y theo giáo pháp luật kinh dạy bày


Lời nói đầu

Một số đông người trong thế gian lầm chấp: Hễ người chết sanh cõi người trở lại, trời chết sanh cõi trời, thú vật chết sanh thú vật v.v... hoặc chết đồng nghĩa là hết, không còn tồn tại. Họ đâu biết cuộc sống của chúng ta là một dòng chuyển biến, chuyển biến liên tục từng sát na. Từ khi chào đời đã chịu quả báo nghiệp nhân của quá khứ. Khi trở thành con người các nghiệp mới do việc làm, lời nói và suy nghĩ phát khởi. Nếu gặp duyên lành ở trong hoàn cảnh tốt, gần bậc thiện tri thức dạy điều lành, điều tốt thì con người sẽ tiến lên các cõi lành. Trái lại gần người ác, hoàn cảnh xấu xa nhiễm theo nghiệp ác, thì sẽ đọa xuống các cõi dữ. Như thế cứ tiếp tục thăng trầm từ đời này sang kiếp khác, không bao giờ dứt (gây nghiệp trả quả báo, trả quả báo rồi gây nghiệp v.v...)

 “Muốn biết nhân đời trước
Xem hưởng quả đời này
Muốn biết quả tương lai
Xét nhân gieo hiện tại
Người mà tâm chân chánh
Mọi người hướng thiện theo
Việc làm hợp lý lẽ
Khắp nơi được an vui
Người mà hư tâm tà
Tham sân dần phát triển
Làm việc mà tùy tiện
Tự rước họa vào thân”

 

TÁN PHẬT

Tâm Thế Tôn mảy trần không bợn

Thân của Ngài vô lượng phước lành

Từ bi cứu khổ độ sanh

Chúng con đảnh lễ chí thành quy y.
 

Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới Quá Hiện Vị Lai Thập Phương Chư Phật Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng Thường Trú Tam Bảo.

Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Chí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

TÁN HƯƠNG

Lò hương vừa bén gỗ chiên đàn

Khói thơm ngào ngạt khắp trần gian

Ba ngàn thế giới đều thanh tịnh

Mười phương chư Phật hiện thân vàng

KHAI KINH

Phật pháp cao siêu rất thẩm sâu

Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu

Con nay nghe thấy chuyên trì tụng

Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI (3 lần)

 

PHẬT NÓI KINH
THIỆN ÁC NHÂN QUẢ

Chính tôi được nghe một thời đức Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn ông Cấp Cô Ðộc, rặng cây Thái tử Kỳ Ðà.

Khi bấy giờ đức Thế Tôn thuyết pháp, có vô lượng Bồ Tát, trời, người đại chúng vây quanh, yên lặng một lòng nghe nhận. Lúc ấy A Nan tôi vì chúng sanh nên bạch Phật rằng: “Kính lạy đức Thế Tôn! Nay thấy thế gian cùng một giống sanh trong đạo người, có kẻ đẹp, kẻ xấu, người mạnh, kẻ yếu, kẻ nghèo, người giàu, kẻ khổ, người vui, kẻ sang, người hèn, âm thanh bất đồng, ngôn ngữ khác nhau, có người sống lâu trăm năm chẳng chết, người ba mươi tuổi đã tử vong, kẻ mười lăm tuổi chết yểu, cho đến trẻ nhỏ bị bào thai đọa lạc. Có người đoan chánh, có kẻ bần hàn, có người xấu xí mà giàu sang, kẻ rất mạnh khoẻ mà thấp kém, Có người nhu nhược mà lên ngôi cao, có người khổ mà sống lâu, kẻ vui mà chết sớm, có người làm lành mà hay gặp nhiều điều khốn quẫn; kẻ làm ác lại gặp phước lợi, kẻ béo trắng lại mắt lác, kẻ xanh đen mà lại tươi đẹp, có người tuy lùn bé mà đủ ý chí cao thượng, có người tuy cao lớn mà phải làm đứa ở đê hèn, có người nhiều con trai con gái, có kẻ cô đơn một mình, có kẻ ly gia hương đói rét lang thang, có kẻ được vào cung vua ăn mặc tha hồ, có ngườì lúc trẻ thì nghèo hèn đến lúc già lại giàu sang, có người thực là vô tội lại bị bắt bớ giam hãm trong tù ngục, có nhà cha từ con hiếu, luận kinh giảng nghĩa, có nhà anh em bất hòa đấu tranh ngang trái, có người nhà cửa đàng hoàng gia sản đầy đủ, có kẻ không cửa không nhà nay đây mai đó, gửi thân nơi đất khách quê người, sống một cách phiêu lưu khốn cực, có người ở như ổ quạ hang hưu giống loài ly thú, cũng có hạng người ăn thịt sống uống máu tươi, mặc áo da lông không biết văn tự, có người an nhàn hưởng phước báo, có kẻ đi làm mướn không ai thuê, có người thông minh cao sáng, có kẻ dốt nát ngu si, có người kinh doanh mới được, có kẻ chẳng cầu tiền của tự đem lại, có kẻ giàu mà tham xẻn, có người nghèo lại rộng lòng bố thí.

Có người lời nói ngọt ngào, có kẻ tiếng nói ra như gai góc, có kẻ được nhiều người ái kính, có kẻ bị mọi người xa lánh, có người từ tâm nuôi mạng chúng sanh, có kẻ sát sanh không nương tay, có người khoan dung đại độ, lại đắc nhân tâm, có kẻ bị dân chúng bỏ rơi.

Có nhà nàng dâu mẹ chồng ghét nhau, có nhà chị em dâu vui vẻ hòa hợp. Có người ham nghe pháp ngữ, có kẻ nghe kinh buồn ngủ, có hạng vũ phu vô lễ, có người hiếu học văn chương, có kẻ hay bắt chước dáng điệu những loài súc sanh. Cuối xin đức thế tôn nói rộng nhân quả cho đại chúng đây nghe mà nhất tâm hành thiện!

Khi bấy giờ đức Thế tôn bảo A Nan tôi rằng: Như ngươi hỏi ta chúng sanh thọ báo bất đồng là do đời trước dụng tâm khác nhau, vì thế cho nên muôn sai vạn biệt.

  • Người đời nay được thân tâm đoan chánh, là do đời trước ở trong đạo người tu hành nhẫn nhục mà được.
  • Kẻ bị thân hình xấu xí, là do đời trước ở trong đạo người có tánh giận tức.
  • Người đời nay bị nghèo cùng, là do đời trước ở trong đạo người có tánh tham xẻn.
  • Người đời nay được cao quý, là đời trước hay lễ bái chư Phật mà được.
  • Người đời nay bị hạ tiện là do đời trước hay có tánh kiêu mạn.
  • Người to lớn là do đời trước có tâm cung kính.
  • Kẻ bị lùn thấp là do đời trước mạn pháp.
  • Kẻ ngang tàn ương ngạnh, là do đờì trước làm kiếp dê.
  • Kẻ đen xấu là do đời trước che ánh sáng của Phật.
  • Kẻ bị cứng lưỡi là do đời trước nếm trai thực cúng dường.
  • Kẻ bị đỏ mắt là do đời trước sẻn tiếc ánh sáng.
  • Người đui mắt là do đời trước hay khâu mắt chim ưng.
  • Người đời nay câm ngọng, là do đời trước hủy báng chánh pháp.
  • Người đời nay điếc lác là do đời trước chẳng vui nghe pháp.
  • Người khuyết răng đời nay là do đời trước hay ăn xương thịt.
  • Người tắc mũi đời nay là do đời trước đốt hương bất hảo cúng dường Phật.
  • Người sứt môi đời nay là do đời trước hay đâm thọc sâu thủng mang hoặc môi cá.
  • Người vàng da là do đời trước hay cạo lông lợn.
  • Người căng tai là do đời trước hay dùi thủng tai sinh vật.
  • Kẻ trần hình, là do đời trước hay mặc áo mỏng vào chùa đứng trước tượng Phật Bồ Tát.
  • Người sắc đen đời nay là do đời trước để tượng Phật thờ ở mái hiên làm khói xông tượng.
  • Người đời nay bị đi khèo chân, là do đời trước thấy bậc sư trưởng không đứng dậy.
  • Người đời nay bị lưng còng, là do đời trước mặc áo mỏng ra vào quay lưng vào tượng Phật.
  • Người bị trán thấp hoặc trớt, là do đời trước thấy Phật chẳng lễ lạy cầm tay gõ trán.
  • Người đời nay rụt cổ, là do đời trước thấy các bậc tôn trưởng rụt đầu chạy trốn.
  • Người đời nay đau tim, là do đời trước hay đâm chém thân thể chúng sanh.
  • Người đời nay bệnh hủi, là do đời trước lừa gạt lấy tài vật của người ta.
  • Người đời nay bị bệnh ho suyễn, là do đời trước trời mùa đông giá rét cho người thức ăn lạnh.
  • Người đời nay không có con, là do đời trước hay nuôi dưỡng các sanh vật.
  • Người đời nay sống lâu, là do đời trước có từ tâm.
  • Người đời nay chết non, là do đời trước hay sát sanh.
  • Người đời nay giàu to là đời trước hay làm hạnh bố thí.
  • Người đời nay có xe ngựa, là do đời trước cúng dường Tam Bảo bằng xe ngựa.
  • Người đời nay thông minh, là do đời trước ham học và tụng kinh.
  • Người đời nay ám độn, là do đời trước làm súc sanh.
  • Người đời nay làm tôi đòi, là do đời trước nghèo mà tham chức dấu.
  • Người đời nay hay nhảy nhót xoay cuồng, là do đời trước làm kiếp khỉ.
  • Người đời nay bị bệnh hủi, là do đời trước phá hoại Tam Bảo.
  • Người đời nay tay chân vặn vẹo, là do đời trước hay trói chân tay chúng sanh.
  • Người đời nay hay có ác tánh, là do đời trước làm kiếp rắn, rết, bọ cạp.
  • Người đời nay sáu căn được đầy đủ, là do đời trước chuyên tâm giữ giới.
  • Người đời nay các căn tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý không được đầy đủ là do đời trước phá giới.
  • Người đời nay hay ăn ở bẩn thỉu, là do đời trước làm kiếp lợn.
  • Người đời nay ham múa hát, là do đời trước làm nghề múa hát ả đào. phường chèo tái sanh.
  • Người đa tham thời nay, là do đời trước làm kiếp chó đầu thai.
  • Người đời nay có búi thịt đeo lủng lẳng ở cổ (bìu cổ), là do đời trước hay ăn một mình (ăn vụng).
  • Người đời nay bị mồm hôi thúi, là do đời trước hay mắng chưởi rủa, hổn hào.
  • Người đời nay không có nam căn, là do đời trước hay thiến chó, lợn.
  • Người đời nay ngắn lưỡi nói ngọng, là do đời trước ngồi ở chổ vắng hay mạ nhục, mắng nhiếc các bậc Tôn trưởng.
  • Người đời nay ham thông dâm với phụ nữ người ta, chết đọa làm loài ngang, vịt.
  • Người đời nay hay thủ dâm với chính họ, chết đọa làm loài chim công, chim sẻ.
  • Người sẻn tiếc kinh thư che giấu trí huệ không chịu nói cho người, chết đọa làm loài trùng ăn đất ăn gỗ (con mọt).
  • Người hay đeo cung tên súng đạn, cưỡi ngựa, chết đọa trong loài Lục di (mường màn mọi rợ).
  • Người ham sát sanh, chết đọa vào trong loài hang thú (hổ, báo, chó sói).
  • Người hay đeo tràng hoa, chết đọa vào loài trùng tải thắng (tức sâu trùng mình có hoa).
  • Người hay mặc áo dài lượt thượt, chết đọa làm trùng đuôi dài.
  • Người hay nằm ăn, chết đọa vào loài lợn.
  • Người ưa thích mặc áo sặc sỡ các sắc loè loẹt, chết đọa làm loài chim loang lỗ.
  • Kẻ hay nhái tiếng người hoặc hài hước điệu người, chết đọa làm loài chim vẹt.
  • Kẻ hay chế diễu người, chết đoạ làm loài trăn, rắn ác độc.
  • Kẻ hay làm buồn não người, chết đọa làm loài trùng ảo não.
  • Kẻ hay tuyên truyền điều ác làm cho người ta tin, chết đọa làm loài chim cú, chim cắt.
  • Kẻ hay nói làm cho người ta bị ương họa tù tội, chết đọa làm loài thú dã hồ.
  • Kẻ hay làm cho người ta sợ hãi kinh khủng, chết đọa làm loài hươu, nai.
  • Người đời trước đi guốc, dép vào chùa, đời nay sanh loài có móng như móng ngựa.
  • Người đời trước hay phóng hạ khí, đời nay làm loài trùng khí bàn.
  • Kẻ đời trước buộc người phải ăn dè xẻn, nghĩa là bớt phần ăn của người, đời nay làm con mọt gặm gỗ.
  • Người đời trước dùng cối giã của Tăng chúng, đời nay bị làm loài trùng gục đầu.
  • Làm thân cá giải đời nay, là do đời trước lạm dụng nước của chư Tăng.
  • Làm bẩn đất chúng Tăng, phải đọa làm loài trùng ở chốn bẩn.
  • Lấy trộm quả trái của chúng Tăng, phải đọa làm loài trùng ăn bùn đất.
  • Loài trâu, lừa kéo cối nghiến, là do đời trước làm người ăn trộm của chúng Tăng.
  • Ðời trước cưỡng xin của chúng Tăng, đời nay làm loài chim bồ câu trắng.
  • Ðời trước nhục mạ chúng Tăng, đời nay phải làm loài trùng ở cổ trâu.
  • Lạm ăn rau của Tăng, phải đọa làm loài sâu ở các thứ rau đắng.
  • Bất kính ngồi giường của Tăng, phải đọa làm loài lươn, loài lịch.
  • Lạm dụng các đồ vật của Tăng, phải đọa làm loài thiêu thân.
  • Nhổ khạc trong đất chùa, đời nay phải đọa làm chim dài mỏ.
  • Mặc áo vằn khói, bôi phấn đánh môi son vào chùa, đời nay phải đọa làm chim mỏ đỏ.
  • Mặc áo màu sặc sỡ vào chùa, đời nay đọa làm loài chim lệ.
  • Ðời trước vợ chồng nằm ngủ với nhau trong chùa, đời nay phải đọa làm loài trùng thanh.
  • Ðời trước ngồi trên hoặc đạp vào tháp thờ, đời nay phải đọa làm loài lạc đà.
  • Ðời trước đi giầy dép vào chùa tịnh xá, đời nay phải đọa làm loài ếch, nhái chuột bọ vân vân.
  • Ðời trước nghe thuyết pháp mà nói chuyện làm ồn, đời nay bị làm loài chim bách thiệt.
  • Làm ô uế tịnh hạnh của Tăng ni, chết đọa vào địa ngục Thiết Quật, có trăm muôn vòng đao bay xuống một lần chém tan thân thể.

Khi đó A Nan tôi bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Theo như lời Phật nói phạm vào của chúng Tăng thật là tội rất nặng, nếu như thế thì bốn chúng đàn việt làm sao mà đến chùa mà cung kính lễ bái được?”

Phật nói: “Người đến chùa tăng có hai thứ tâm: một là thiện tâm, hai là ác tâm.

Thế nào là thiện tâm? Người đến chùa Tăng thấy Phật thì lễ bái, thấy Tăng thì cung kính, thỉnh kinh hỏi nghĩa và thọ giới sám hối, bỏ tiền của ra xây cất chùa chiền, kiến lập Tam Bảo, không tiếc thân mạng, hộ trì chánh pháp. Những người như thế cất chân một bước tức là bước thiên đàng, đời vị lai hưởng phước như cây Ðề Gia, đó gọi là người tối thiện.

Thế nào là ác tâm? Có những chúng sanh khi tới chùa, chỉ dòm ngó xin chúng Tăng như là đòi mượn tiền mượn của hoặc chỉ trích chư Tăng, vạch tỏ những lỗi lầm chuyên chủ phá hoại mà thôi, hoặc ăn của Tăng không có tâm hổ thẹn, nào bánh quả, rau đậu, cắp mang về nhà, những con người như thế chết đọa vào địa ngục Thiết Hoàn, vạc nước sôi, lò than, núi dao, rừng kiếm phải bị trừng phạt, đó tức là kẻ tối hạ ác nhân!”

Phật lại dặn A Nan tôi rằng: “Phải răn bảo cho đệ tử của ta đời mai sau, khi đến chùa phải cẩn thận chớ phạm của Tam Bảo, phải gắng sức tôn sùng thành thật, chớ có thoái tâm, nghe lời Phật, tới khi ngài Di Lặc xuất thế quyết định được độ thoát không nghi ngờ”.

Phật nói:

  • Ðời nay cướp lột áo của người ta, chết đọa vào địa ngục Hàn Băng, sau đọa làm loài tằm bị người nung nấu kéo tơ.
  • Ðời nay chẳng muốn đốt đèn soi kinh, cúng tượng chết đọa vào địa ngục Hắc Ám trong núi Thiết Vi.
  • Ðời nay làm kẻ đồ tể mổ giết chúng sanh, chết đọa vào trong địa ngục Ðao Sơn Kiếm Thụ.
  • Ðời nay ham đi săn bắn, huýt chó thả chim ưng làm mồi, sau khi chết đọa vào địa ngục Thiết Cứ.
  • Ðời nay hay làm hạnh tà dâm, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Ðồng Trụ, Thiết Sàng.
  • Ðời nay chứa nhiều vợ, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết Khải.
  • Ðời nay chứa nhiều chồng sau khi chết đọa vào địa ngục Ðộc Xà.
  • Ðời nay hay thui luộc gà, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Hôi Hà.
  • Ðời nay hay cạo lông lợn, nhổ lông gà, sau khi chết đọa vào địa ngục Hoặch Thang.
  • Ðời nay hay hoạn thiến chó lợn, sau khi chết đọa vào địa ngục Tiêm Thạch.
  • Ðời nay hay uống rượu say, sau khi chết đọa vào địa ngục uống nước đồng.
  • Ðời nay hay cắt chém chúng sanh, sau khi chết đọa vào địa ngục Thiết Luân.
  • Ðời nay lấy trộm quả trái của tăng chúng, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết Hoàn.
  • Ðời nay hay ham ăn ruột thịt chó lợn, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Phân nước giải.
  • Ðời nay hay ăn gỏi cá, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Ðao Lâm Kiếm Thụ.
  • Ðời nay làm mẹ ghẻ cay nghiệt với con chồng, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Hỏa Xa.
  • Ðời nay hay nói lưỡi đôi chiều làm cho người ta ấu đã nhau, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết Lê.
  • Ðời nay hay nói đâm thọc mạ nhục người, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Bạt Thiệt.
  • Ðời nay hay nói dối, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết Châm.
  • Ðời nay hay sát sanh cúng tế tà thần, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết Ðối.
  • Ðời nay làm bà đồng khi lên đồng, giả làm lời nói của quỷ thần để dối người ta lấy tiền của, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Nhục Sơn.
  • Ðời nay làm bà đồng nhắm mắt nhìn xuống đất dối người lên trời lấy thần hồn, kẻ đó sau khi chết đọa vào trong địa ngục Trảm Yêu (chặt ngang lưng).
  • Ðời nay làm bà đồng bảo người ta sát sanh cúng tế để cầu ông thần lớn hoặc họa ngũ đạo, Thổ Ðịa, Thổ Công, ông hoàng bà chúa, tất cả như thế đều là lừa dối kẻ tiền, sau khi chết đọa vào địa ngục Chước, bị quân ngục tuốt băm chém, mổ xẻ thân thể, lại bị con chim mỏ sắt mổ moi hai mắt.
  • Ðời nay làm thầy bói phù thủy, ông đồng hoặc thầy địa lý chôn cất mồ mả, xem gia trạch, đoán cát hung, năm họ tiện lợi, an long giận mạch trấn ác suy họa để lừa dối kẻ ngu lấy tiền, nói càn những điềm xấu tốt, các bọn người này sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết Ðồng, có rất nhiều giống chim đậu trên mình kẻ đó để mổ móc thịt ăn, ray rỉa gân xương chịu khổ vô cùng.
  • Ðời nay làm thầy thuốc lừa dối chữa bệnh người không lành để lấy tiền, sau khi chết đọa vào địa ngục Châm Chích, toàn thân bị thiêu đốt.
  • Ðời nay làm kẻ phá tháp phá chùa, lường gạt chư Tăng, bất hiếu với cha mẹ, sau khi chết đọa vào đại địa A Tỳ qua tám địa ngục lớn và các địa ngục nhỏ, một trăm ba mươi sáu sở, lâu một kiếp, hai kiếp, cho đến năm kiếp, rồi sau đó mới được ra, nếu gặp bậc thiện tri thức giáo hóa phát tâm bồ đề, bằng không lại đọa địa ngục.
  • Phật nói: Làm thân người rất hôi thối nhơ bẩn, đầy lòng giận tức khó gỡ bỏ, phải biết kẻ đó kiếp trước làm giống lạc đà nay được tái sanh.

    Người hay đi đây đi đó ăn khoẻ, không tránh nguy hiểm khó khăn, kẻ đó trước làm giống ngựa tái sanh.
  • Người hay xông pha đi nắng đi rét tâm không ghi nhớ, kẻ đó trước làm giống trâu được tái sanh.
  • Người tiếng nói to hồm hỗm, không biết hổ thẹn, nhiều ái niệm không phân biệt phải trái, kẻ đó trước làm giống lừa được tái sanh.
  • Người hay tham ăn thịt, làm gì cũng không sợ, kẻ đó trước làm giống sư tử được tái sanh.
  • Người lông trên mình dài, mắt nhỏ không muốn ở yên chỗ, kẻ đó trước làm giống chim được tái sanh.
  • Người thân cao lớn, mắt tròn, tánh hay lẫn tránh những nơi đồng ruông và ghét bỏ vợ con, kẻ đó trước làm giống hổ được tái sanh.
  • Người có tánh phản phúc, lại hay sát hại sâu trùng, kẻ đó trước làm giống dã hồ mà tái sanh.
  • Người có lực khoẻ mạnh và cường tráng ít dâm dục, không yêu vợ con, kẻ đó trước làm giống chó sói mà tái sanh.
  • Người không ham mặc áo đẹp, tánh hay rình bắt kẻ gian phi và ít ngủ, đa sân nộ kẻ đó trước làm giống chó mà tái sanh.
  • Người ham dâm dục và hay nói, lại được nhiều người yêu, kẻ đó trước làm giống chim vẹt mà tái sanh.
  • Người hay vui trong nhân chúng, lời nói nhiều phiền phức, kẻ đó trước làm loài chim yểng mà tái sanh.
  • Người thể vóc bé nhỏ ham dâm dục ý chẳng chuyên định, thấy sắc đẹp sanh tâm say mê, kẻ đó trước làm loài chim sẻ được tái sanh.
  • Người mắt có sắc đỏ răng ngắn, khi nói thì sùi bọt mép như xà bông, nằm thì cuộn mình lại, kẻ đó trước làm loài trăn rắn được tái sanh.
  • Người lời nói ra có tánh giận tức, không quan sát nguyên do ý nghĩa, miệng thở ra lửa độc, kẻ đó trước làm giống bọ cạp, rết, mọt gỗ được tái sanh.
  • Người hay ngồi một mình ăn, đêm ít ngủ, kẻ đó trước làm loài hồ được tái sanh.
  • Kẻ hay đào tường khoét vách ăn trộm, tham của đầy lòng oán giận không có tình thân sơ, kẻ đó trước làm loài chuột được tái sanh.
  • Phật nói: “Kẻ phá hoại chùa tháp, cất giấu của Tam Bảo làm riêng của mình để ăn dùng, chết đọa vào đại địa ngục A Tỳ, từ địa ngục được thoát ra lại đọa làm thân súc sanh, như chim bồ câu, chim sẻ, chim uyên ương, chim oanh vũ, chim thanh tước, cá giải, khỉ, vượn, hưu, nai nếu được làm người phải đọa thân hoàng môn hoặc con gái hai căn, không căn hay kẻ dâm nữ.
  • Làm người hay giận tức, chết đọa làm loài rắn độc, sư tử, hổ, báo, gấu bi, mèo, hồ, chim ưng, gà, nếu được làm người hay nuôi gà lợn, kẻ đồ nhi (mổ giết trâu lợn) kẻ săn bắn, kẻ chài lưới bắt cá và quân canh ngục.
  • Làm người gặp Phật pháp mà ngu si chẳng hiểu đạo, khi chết đọa làm loài voi, lợn, trâu, dê, trâu nước, rận, chí, ruồi, muỗi, kiến, các thân hình, nếu được làm người thì mù, điếc, câm, ngọng, gù, còng, các căn không đủ, không hay thọ giáo pháp.
  • Làm người hay kiêu mạn, chết làm loài bọ trong đống phân, hoặc làm lừa chở nặng, loài chó, loài ngựa, nếu được sanh làm người phải đọa làm thân nô tỳ nghèo cùng ăn mày, bị mọi người khinh rẻ.
  • Làm người mà được chức vị quan quyền lại tham lấy của dân, chết đọa vào trong địa ngục Nhục Sơn, lúc đó có trăm ngàn muôn quỷ thú lại cắt thịt mà ăn.
  • Ðời nay phá trai ăn đêm, sau khi chết đọa làm loài quỷ đói, trăm ngàn muôn năm không được ăn uống, lúc bước đi trên đầu phun ra lửa.
  • Ðời nay ham cởi trần ngồi, sau khi chết đọa làm loài trùng hàn vọ.
  • Ðời nay hay cắp đồ trai dư về ăn uống, chết đọa vào trong địa ngục Nhục Thiết, sau khi sanh vào cõi nhân gian mắc chứng bịnh yết hầu và chết non.
  • Ðời nay lễ Phật đầu chẳng sát đất, chết đọa vào ngục Ðảo Huyền, sau khi sanh vào cõi nhân gian phần nhiều bị lừa dối.
  • Ðời nay lễ Phật không chắp tay, sau khi chết sanh nơi biên địa, làm nhiều thu hoạch ít.
  • Ðời nay nghe tiếng chuông không ngồi dậy, sau khi chết đọa vào trong loài trăn, thân to dài bị vi trùng moi rúc ăn.
  • Ðời nay chắp tay hai bàn tay vùng lại với nhau lễ Phật, chết đọa vào địa ngục Phản Phọc, sau sanh trong đạo người gặp nhiều việc ác. Ðời nay chắp tay và năm thể rạp xuống đất chí tâm lễ Phật , đời sau thường được sanh vào nhà tôn quý thụ hưởng khoái lạc.
  • Người ưa giận và buồn phiền, là do đời trước có bịnh điên cuồng.
  • Người bị con ngươi lệch về một bên (mắt lác), là do đời trước hay nhìn trộm phụ nữ.
  • Người đời nay bênh vợ mắng cha mẹ, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Trảm Thiệt.
  • Ðời nay lấy nước đổ vào trong rượu rồi bán cho người ta, sau khi chết phải đọa làm loài trùng trong nước, khi sanh cõi nhân gian mắc chứng bệnh thủng và đoản khí mà chết.

Phật lại dạy A Nan tôi rằng: “Như trên ta đã nói rất nhiều các sự đau khổ, đều là do nghiệp thập ác mà ra, thượng là nhân duyên địa ngục; trung là nhân duyên súc sanh; hạ là nhân duyên ngạ quỷ.

  • Tội sát sanh khiến cho chúng sanh đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo: một là chết non, hai là nhiều bịnh.
  • Tội trộm cắp cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục ngạ quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo: một là nghèo cùng hai là chung của không được xài tự do.
  • Tội tà dâm cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo: một là vợ không trinh lương, hai là hai vợ tranh nhau không theo ý mình.
  • Tội nói dối cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo: một là phần nhiều bị người phỉ báng, hai là thường bị người ta lừa gạt.
  • Tội lưỡng thiệt cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo: một là bị họ hàng phá hoại, hai là bị anh em họ hàng tệ ác.
  • Tội ác khẩu cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sau được sinh làm người phải hai thứ quả báo: một là thường phải nghe tiếng ác, hai là có nói ra điều gì tranh cãi kiện tụng.
  • Tội ỷ ngữ cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo: một là phải nói chẳng ai tin, hai là lời nói không được rành rọt.
  • Tội tham dục cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo: một là tham tài không chán, hai là cầu nhiều không toại ý.
  • Tội sân giận cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo: một là thường bị người ta chỉ trích tội lỗi, hai là thường bị người ta não hại.
  • Tội tà kiến cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sau sanh làm người phải hai thứ quả báo: một là thường sanh vào nhà tà kiến, hai là tâm thường nịnh hót không được ngay thẳng. Các Phật tử nên biết nghiệp thập ác như thế, đều là mọi sự đau khổ, chứa chất một nhân duyên lớn.

Khi bấy giờ trong đại chúng, có người đã tạo nghiệp thập ác, nghe Phật nói khổ báo của địa ngục như thế, tự kêu khóc sợ hãi mà bạch Phật rằng:

“Lạy đức Thế Tôn, đệ tử chúng con phải làm hạnh gì mà được thoát khỏi khổ ấy, cuối xin đức Thế Tôn chỉ bảo cho ?”

Phật nói: “Các ngươi hãy giáo hóa hết thảy chúng sanh chung làm nghiệp phước, thế nào là tu phước?

  • Nếu có chúng sanh nào đời nay làm một người Ðại hóa chủ đứng ra xây cất chùa, tháp, tịnh xá đời vị lai được phước làm quốc vương thống lãnh vạn dân khắp nơi đều quy phục.
  • Ðời nay làm Ấp vương trung chánh, duy na, luân chủ, đời sau sẽ được làm vương thần, phụ tướng, châu quận đầy đủ tôn sang.
  • Ðời nay khuyến hóa nhiều người làm các việc công đức, đời vị lai sẽ được làm trưởng giả giàu sang, mọi người kính nể bốn đường khai thông.
  • Ðời nay hay đốt đèn nối sáng, đời sau sanh vào cung trời Nhật Nguyệt Quang Minh tự chiếu soi.
  • Ðời nay hay làm việc bố thí và từ tâm nuôi dưỡng sanh mạng, đời sau sanh nơi giàu có ăn mặc tự nhiên.
  • Ðời nay hay cho người thức ăn uống, đời sau nơi sanh bếp trời tự đem lại, sức lực đầy đủ, thông minh, trí huệ, biện tài, thọ mạng lâu dài.
  • Cho thức ăn loài súc sanh được bách bội báo, cho thức ăn kẻ nhứt xiển đề được ngàn bội báo.
  • Cúng dường thầy Tỳ kheo trì giới được vạn bội báo, nếu cúng dường các vị Pháp sư lưu thông Ðại Thừa giảng tuyên tạng bí mật của Như Lai, khiến cho đại chúng khai thông tâm mắt được vô lượng báo. Cúng dường Bồ Tát chư Phật thọ báo vô cùng. Cúng dường ba bậc người phước báo vô tận: một là chư Phật, hai là cha mẹ, ba là bệnh nhân.
  • Một lần cúng món ăn mà được phước báo vô lượng như thế, nếu hay thường cúng dường phước ấy bao giờ vô cùng tận được?
  • Ðời nay xối nước tắm cho chúng tăng, đời sau sanh chốn áo mặc tự nhiên, có mọi người kính nể, thân hình đoan chánh, mặt mắt tươi đẹp.
  • Ðời nay tán dương Phật và ham đọc tụng kinh pháp, sanh thân đời sau tiếng nói hòa nhã nhiệm mầu, ai nghe tiếng cũng vui mừng.
  • Ðời nay hay giữ giới, sanh thân đời sau đoan chánh oai nghi, là bậc tối thắng trong loài người.
  • Ðời nay hay đào giếng hoặc để chum, để thùng nước cho người qua lại dùng, trồng cây bên đường cho người nghỉ mát, đời sau sanh xứ nào cũng làm thân vương, trăm mùi ăn uống nghĩ tới là có đưa lại.
  • Ðời nay hay viết chép kinh pháp cho người đọc, đời sau sanh xứ nào miệng biện đa tài, học pháp gì, nghe qua một lần thấu hiểu, chư Phật Bồ Tát thường gia hộ, là tối thắng trong loài người và thường làm bậc Thượng Thủ.
  • Ðời nay hay bắt cầu, hoặc chở thuyền cho người qua sông, đời sau sanh xứ nào đều có đầy đủ bảy báu, mọi người khen kính và chiêm ngưỡng, đi lại ra vào được người nâng đỡ.

Khi đó A Nan tôi bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn, kinh này gọi là gì và khuyến phát thế nào cúi xin ngài chỉ giáo”.

Phật bảo A Nan tôi rằng: “Kinh này tên Thiện Ác Nhân Quả, cũng gọi là kinh Bồ Tát Phát Nguyện Tu Hành, thọ trì như thế”.

Khi Phật nói kinh xong, trong chúng có tám vạn người, trời phát tâm A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề và có trăm ngàn người con gái chuyển thành nam. Một ngàn hai trăm ác nhân bỏ ý ác biết đời trước của mình. Vô lượng trời người được vô sanh nhẫn, thường được hưởng khoái lạc. Vô lượng thính giả sanh các cõi Tịnh Ðộ cùng được làm bạn với chư Phật Bồ Tát. Hết thảy đại chúng về nhà làm phước, hoan hỷ phụng hành.

PHẬT NÓI KINH
THIỆN ÁC NHÂN QUẢ

Một hôm Phật ở nước Xá Vệ rừng Kỳ Ðà vườn ông Cấp Cô Ðộc, tôi nghe như vầy:

Khi ấy vua Ba Tư Nặc đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, lui ngồi một bên, bạch Phật:

-- Thế nào Thế Tôn! Bà La Môn chết rồi trở lại sanh trong dòng Bà La Môn chăng? Sát Lợi, Tỳ Xá, Thủ Ðà la cũng thế chăng?

-- Ðại Vương! Ðâu được như vậy. Ðại Vương nên biết có bốn hạng người:

  1. Có người từ tối vào tối.
  2. Có người từ tối vào sáng.
  3. Có người từ sáng vào tối.
  4. Có người từ sáng vào sáng.

Ðại Vương! Thế nào là hạng người từ tối vào tối?

- Có những người sanh ra trong nhà ty tiện hoặc nhà Chiên Ðà La (Candala), nhà làm lưới bẫy, nhà đương lát, nhà thợ mộc và các nghề nghiệp hạ tiện, nghèo cùng, chết yểu, thân thể xấu xa, mà lại làm những nghề hạ tiện, cũng bị người sai làm những việc hạ tiện, ấy gọi là tối.

Ở trong chỗ tối, người kia lại thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, do nhơn ấy thân hoại mạng chung sẽ sanh cõi ác đọa địa ngục. Ví như có người từ tối vào tối, từ nhà xí vào nhà xí, dùng máu rửa máu, xả ác thọ ác, người từ tối vào tối cũng như thế.

Thế nào là người từ tối vào sáng?

- Có những người sanh trong gia tộc ty tiện, cho đến làm nghề hạ tiện, ấy gọi là tối. Nhưng người kia ở trong chỗ tối này, thân hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện, do nhân duyên ấy thân hoại mạng chung, sanh vào cõi lành, được hóa sanh lên cõi trời. Ví như có người bước lên chõng từ chõng cưỡi ngựa, từ ngựa lên voi, từ tối vào sáng cũng như thế.

Thế nào là người từ sáng vào tối?

- Có những người sanh trong gia tộc giàu sang hoặc nhà Sát Lợi giàu sang, hoặc nhà Bà La Môn giàu sang, nhà trưởng giả và các gia đình giàu sang nhiều tiền của, tôi tớ, nhiều trí thức, thân tốt đẹp, thông minh trí tuệ, ấy gọi là sáng. Ở trong chỗ sáng này, thân hành ác, khẩu hành ác, ý hành ác, do nhân duyên ấy thân hoại mạng chung sanh cõi ác, đọa địa ngục. Ví như có người từ lầu cao xuống cưỡi voi, từ voi xuống lưng ngựa, từ ngựa xuống xe, từ xe xuống chõng, từ chõng xuống đất, từ đất rơi xuống hầm, từ sáng vào tối cũng như thế.

Thế nào là người từ sáng vào sáng?

- Có những người sanh trong gia tộc giàu sang cho đến hình tướng tốt đẹp. Ở trong chỗ sáng này tâm hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện, do nhân duyên này thân hoại mạng chung sanh cõi lành được hóa sanh cõi trời. Ví như có người từ lầu đẹp đến lầu đẹp, như thế cho đến từ chõng đến chõng, người từ sáng vào sáng cũng như thế. Khi ấy Thế Tôn nói bài kệ:

Người bần cùng khốn khổ
Không tin thêm sân hận
Sân tham tưởng ác tà
Si mê không cung kính
Thấy Sa Môn, Ðạo Sĩ
Người trì giới, đa văn
Chê bai, không khen ngợi
Chướng người trí kẻ thọ
Kẻ sĩ phu như thế
Từ đây đến đời sau
Sẽ đọa trong địa ngục
Từ tối vào nơi tối.
Nếu có người bần cùng
Tín tâm ít sân hận
Thường sanh tâm tàm quí
Bố thí lìa xan tham
Thấy Sa Môn, Phạm chí
Người trì giới, đa văn
Thấp mình và thăm hỏi
Tùy nghi khéo giúp đỡ
Khuyên người khiến bố thí
Khen thí và người thọ
Người tu thiện như thế
Từ đây đến đời sau
Cõi lành sanh lên trời
Từ tối vào nơi sáng.
Có sĩ phu giàu vui
Không tin nhiều sân hận
Sân tham, tật tưởng ác
Tà si không cung kính
Thấy Sa Môn, Phạm chí
Chê bai không khen ngợi
Chướng ngại người bố thí
Cũng đoạn người thọ thí
Sĩ phu ác như thế
Từ đây đến đời sau
Sẽ sanh địa ngục khổ
Từ sáng vào trong tối.
Nếu có sĩ phu giàu
Tín tâm không sân hận
Thường khởi tâm tàm quí
Huệ thí lìa sân đố
Thấy Sa Môn, Phạm Chí
Người trì giới, đa văn
Trước kính đón thăm hỏi
Tùy nghi cấp chỗ cần
Khuyên người khiến cúng dường
Khen thí và thọ thí
Kẻ sĩ phu như thế
Từ đây đến đời sau
Sanh tam thập tam thiên
Từ sáng vào nơi sáng.

Phật nói kinh này rồi, vua Ba Tư Nặc nghe Phật nói hoan hỷ tùy hỷ làm lễ rồi lui đi.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

DÂNG LỜI PHÁP NGUYỆN

Kính lạy mười phương Phật

Kính lạy mười phương Pháp

Kính lạy mười phương Tăng

Xin chứng giám lòng con

Với tất cả tâm thành

Dâng lên lời phát nguyện

Nguyện cho con mãi mãi

Lòng tôn kính vô biên

Hơn núi biển mênh mông

Dâng lên mười phương Phật

Nguyện cho con mãi mãi

Lòng yêu thương không cùng

Trải thế giới tam thiên

Đến chúng sanh vô tận

Nguyện cho khắp muôn loài

Sống an lành bên nhau

Không ganh ghét oán thù

Không chiến tranh giết chóc

Nguyện cho kẻ bất thiện

Biết tin có luân hồi

Có nghiệp báo trả vay

Để hồi đầu hướng thiện

Nguyện kẻ mù được sáng

Kẻ điếc lại được nghe

Kẻ nghèo được ấm no

Kẻ ốm đau bình phục

Nguyện cho loài cầm thú

Thoát được nghiệp ngu si

Tái sinh vào cõi người

Biết tu theo Phật pháp

Các vong linh vất vưởng

Trong cõi giới u huyền

Thoát nghiệp đói triền miên

Quy y và siêu thoát

Nguyện cho nơi Địa ngục

Chúng sanh đang đọa đày

Khởi được tâm từ bi

Để xa lìa cảnh khổ

Cúi xin mười phương Phật

Chư Bồ tát Thánh hiền

Đem chánh pháp thiêng liêng

Sáng soi nghìn thế giới

Nguyện tự con mãi mãi

Dù sinh về nơi đâu

Đều gặp pháp nhiệm mầu

Để nương theo tu tập

Nguyện con biết khiêm hạ

Biết tôn trọng mọi người

Tự thấy mình nhỏ thôi

Hạnh tu còn kém cỏi

Nguyện lòng con rộng mở

Biết san sẻ cúng dường

Biết giúp đở thương yêu

Đến những người khốn khó

Nguyện con luôn bình thản

Trước nghịch cảnh cuộc đời

Dù bị mắng bằng lời

Hay bằng điều mưu hại

Nguyện tâm con sung sướng

Khi thấy người thành công

Hoặc gây tạo phước lành

Như chính con làm được

Nguyện con biết im lặng

Không nói lỗi của người

Chỉ lặng lẽ dùng lời

Cầu cho người hết lỗi

Nguyện vòng dây mê ái

Rời khỏi cuộc đời con

Để cho trái tim con

Biết yêu thương tất cả

Nguyện lạy mười phương Phật

Đau khổ đã nhiều rồi

Vô lượng kiếp luân hồi

Đắng cay và mệt mõi

Nay con dâng lời nguyện

Giải thoát quyết tìm về

Giác ngộ, quyết lìa mê

Độ sinh đền ơn Phật

Nguyện cho con giữ vững

Được chí nguyện tu hành

Không một phút buông lơi

Không một giờ xao lãng

Nguyện vẹn toàn giới hạnh

Tu Chỉ Quán lắng sâu

Với trí tuệ nhiệm mầu

Xóa tan dần chấp ngã

Nguyện con luôn tỉnh táo

Không kiêu mạn tự hào

Dù tu tiến tới dâu

Vẫn tự tìm chỗ dở

Nguyện tự con đi mãi

Không dừng lại giữa đường

Đến tuyệt đối vô biên

Tâm đồng tâm chư Phật

Rồi trong muôn vạn nẻo

Cửa sanh tử luân hồi

Con mãi mãi không thôi

Độ sinh không ngừng nghỉ

Nguyện lạy mười phương Phật.

Xin chứng giám lòng con

Lời tự nguyện sắc son

Dâng lên ngôi Tam Bảo

 

PHỤNG HÀNH PHẬT SỰ

                                Cúi đầu trước mười phương chư Phật

                                    Con nguyền chân thật kính tin

Phát lời thệ nguyện độ sinh

Y theo giáo pháp luật kinh dạy bày

Con được chút duyên may thưở trước

Nay dự vào gia tộc Phật gia

Làm con thừa tự Thích Ca

Bổn sư Từ phụ đức cha trọn lành

Đã nhiều kiếp hy sinh hóa đạo

Đem pháp mầu chỉ giáo quần sanh

Dứt lòng náo động đua tranh

Thẳng đường Bát chánh lên thành Chân như

Trên nẻo ấy Minh sư dắt dẫn

Tránh khỏi vòng lận đận đắn đo

Mặc dầu đường lối cam go

Phụng hành Phật sự Trí to ngại gì

Miễn trừ sạch sân si nghiệp chướng

Xa khỏi điều sanh tử đắm mê

Sen vàng cảnh Phật cận kề

Hào quang tỏa sáng đường về lẹ thay

Con tự nguyện từ nay sám hối

Ác nghiệp xa chuyển đổi duyên may

Rửa lòng trần cấu đắng cay

Mùi hương thanh tịnh thơm bay ngạt ngào

Nguyện cất tiếng vang cao kính tụng

Khắp nguyện cùng chúng chúng an nhàn

Phước lành ban rải nhân gian

Niệm lành tràn chảy muôn ngàn thiện duyên

Đồng một nguyện vui miền Trí địa

Đồng một lòng về phía chánh chơn

Nội tâm dựng lập không sờn

Tô bồi Phật sự lòng thêm nhiệt thành

Chướng đây đó nào sanh thối kiếp

Chỉ một bề thâu nhiếp vọng tâm

Quay về cảnh giới thậm thâm

Rõ đường chánh giác u trầm thoát ly

Lòng thành Phật chứng tri hộ niệm

Chúng con nguyền thúc liễm cùng nhau

Nẽo lành nhẹ bước mau mau

Cõi lành hiển hiện trước sau một đoàn

Kìa thiên thượng nhân gian qua lại

Giống Bồ đề gieo rải sum xuê

Liên đài con nguyện trở về

Chúng sanh hết nghiệp đề huề vui theo.

 

HỒI TÂM TỰ HỐI

 

Xin đại chúng lắng nghe cho kỷ

Phật dạy rằng rất quý là thân

Vì bao đời tích thiện nhân

Nên nay mới lại được sinh làm người

Phật pháp chính là nơi khó gặp

Thầy bạn hiền cũng rất hiếm hoi

Nay ta may gặp đủ rồi

Không mau tu tỉnh đợi thời nào ư

Vậy nên kíp bài trừ tính xấu

Bao điều hay khuyên bảo lẫn nhau

Phải nên suy trước nghĩ sau

Chớ theo cảnh dối tìm vào bến mê

Để thân lại quay vế bể khổ

Kiếp bọt bèo sóng vỗ tả tơi

Đắm chìm chưa biết bao đời

Vào sinh ra tử đứng ngồi lao đao

Lúc đó muốn tu nào dễ được

Đường đã nhầm càng bước càng xa

Chi bằng ta hãy vì ta

Bây giờ tu học thật là dễ thay

Học ngay pháp ngày xưa Phật học

Việc Phật làm cũng dốc lòng theo

Chí thành làm được bao nhiêu

Quả sau kết bởi nhân gieo tự rày

Tâm an tỉnh đêm ngày nên gắng

Náo động lòng chớ tưởng màng chi

Thẳng dong đường chánh bước đi

Ngàn kia xa cũng có khi đến gần

Bấy giờ được pháp thân tự tại

Cả hai đường phúc tuệ vẹn hai

Lại ra độ khắp muôn loài

Lợi tha tâm nguyện đời đời không ngưng

Ngẫm ngay cảnh tưng bừng trước mắt

Ngoảnh cổ đi đã mất hết rồi

Khác nào như đám mây trôi

Thiên hình vạn trạng hợp rồi lại tan

Muôn loài ở thế gian là khổ

Sinh ốm già chết đủ đắng cay

Ái ân ly biệt thảm thay

Cầu chi chẳng được lòng này xót xa

Ở với kẻ gieo sầu chuốc oán

Chịu những điều chẳng muốn xưa nay

Khổ đau càng chất càng đầy

Ai người trong cảnh mới hay nỗi niềm

Một thân chịu muôn ngàn đau khổ

Kết cuộc rồi còn có thấy chi

Họa may đám cỏ xanh rì

Gọi là chút đỉnh nhớ ghi ít ngày

Thế mới thấy thân này là giả

Có chi mà tranh ngã tranh nhân

Chẳng qua cùng ở cõi trần

Cõi đời ô uế dễ thân sạch nào

Suy cho kỹ ngộ rồi sẽ thấy

Cõi đời này tin cậy được không

Vậy còn chi nữa mà mong

Kíp nên tu tập để hòng mai sau

Tâm an lạc còn đâu hơn được

Đấy mới là cõi nước an vui

Sống lâu kiếp kiếp đời đời

An nhàn sung sướng thảnh thơi tháng ngày

 

TỰ NHỦ LẠI MÌNH

 

Nối duyên trước phát nguyền giác ngộ

Sao bỏ đi đến độ nghịch hành

Trôi lăn trong biển tử sanh

Biết bao giờ đến cửa thành giác tha

Rõ như vậy nên ta sửa đổi

Gắng thực hành đường lối lợi tha

Nếu không, đọa lạc nê hà

Ngày càng sâu nặng biết mà về đâu

Chư Phật đã từ lâu ban rải

Cứu chúng sanh từng trải nhiều đời

Nhưng ta nghiệp chướng chưa vơi

Nên không cảm nhận được lời Phật răn

Nếu hôm nay gia tăng việc ác

Chắc chắn rằng đọa lạc không sai

Khổ đau vùi dập hình hài

Quay cuồng biển khổ không ai nương nhờ

Chưa biết đến bao giờ có được

Những duyên lành hữu phước như sau

Thân người, gặp Phật, tin mau

Căn thân đầy đủ giúp ta tu hành

Nếu buông thả ác hành phải khổ

Khi tái sanh hết độ làm người

Lấy gì để được trăng sao

Hạnh lành mất cả khổ đau tột cùng

Duyên lành đến hạnh phùng Phật đạo

Công đức nên gắng tạo hôm nay

Nếu không lo liệu đến ngày

Vào ba đường ác đọa đày vô phương

Không làm lành mà thường tạo ác

Trong nghìn đời ức sát tối tăm

Không nghe được chữ hảo tâm

Thân người khó được vượt tầm kiết tri

Do lẽ đó nên chi Phật dạy

Được thân người khó thấy hơn rùa

Mù mà tìm bọng cây vô

Nổi trôi biển cả nhấp nhô sóng ngàn

Đã phạm tội không bàn mau chậm

Cũng đọa vào ngục thẳm A Tỳ

Đường lành đâu dễ bước đi

Tội chồng chất kể từ khi gây tạo

Sau khi trả tội trong địa ngục

Được thoát thân còn cũng là may

Những khi đền tội khổ này

Lại thêm gây nghiệp ác tày Tu Di

Biết như vậy lắm khi cuồng dại

Được thân người ỷ lại vào đâu

Không thừa cơ hội làm đầu

Tạo công đức lực để cầu siêu sanh

Hiểu như thế rõ rành nhân quả

Sao biếng lười đầy cả nơi tâm

Tử thần gỏ cửa hỏi thăm

An năn không kịp lỗi lầm từ lâu

Đến lúc đó âu sầu thê thảm

Thân đốt thiêu nghiệp cảm khổ đau

Tâm ta ân hận biết bao

Dày vò trong ngục làm sao thoát nàn

Duyên tốt sẳn ta đang hiện có

Được thân người thật khó biết bao

Thế mà ý thức khơi mào

Làm ta trở xuống rơi vào ngục xưa

Ta chẳng khác kẻ vừa mất trí

Bị vô tri nên bí lối ra

Cái gì ngự trị trong ta

Cướp quyền làm chủ tâm nhà giác tri

Thôi đủ rồi mê tri chất ngất

Nay ta theo các bậc Hiền nhân

Giữ gìn chánh niệm chuyên cần

Quay về nội giải chuyển tâm tham trầm

Như Bồ tát cao thâm con Phật

Ta nhẫn chịu điều thật khó khăn

Ngày đêm tinh tấn siêng năng

Mới mong chấm dứt khổ hằng bao vây

Ta phải luôn có đầy nghị lực

Kéo tâm ra khỏi vực nê hà

Tảo trừ ảo ảnh mê sa

Chỉ quán chánh niệm Thiền na vững bền

 

HỒI HƯỚNG

 

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo

    

NAM MÔ DI ĐÀ PHẬT

Phục nguyện

Chơn linh bất tử, thể tánh tròn đầy sao nỡ tự đọa đày trong chín tầng địa ngục

Phải chăng nhiều đời vì tham dục, không hiểu được tôn ý Như Lai, luân chuyển trong bốn loài, tăng trưởng, tham sân tam độc.

Hôm nay đối trước mười phương chư Phật, cùng chúng hội đạo tràng, tất cả sẳn sàng xin hết lòng cầu nguyện cho: (Họ và tên, pháp danh)…

Thất tổ cửu huyền nghiệp chướng tiền khiên, oan gia trái chủ gồm đủ oán thân.

Mong nhờ Địa Tạng Bồ tát năng nhân, Phật A Di Đà tiếp độ.

Rời biển trần khổ, vào chốn Liên Trì, mượn nước đại bi tẩy trừ nghiệp chướng.

Đời đời sung sướng nhờ có Diệu Pháp, kiếp kiếp nhẫn nhục nhu hòa siêng tu Bồ tát đạo.

Bốn ân tổng báo ba cõi đều nhờ, khắp cả mọi nơi, đồng về Tịnh Độ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 320
Pháp Âm: 1634
Đang truy cập
Hôm qua: 134
Tổng truy cập: 515389
Số người đang online: 13